Doanh thu tăng, biên lãi gộp tụt còn 1,9%
Công ty mẹ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ghi nhận 8.631 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong 6 tháng đầu năm, tăng 26,2% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, bức tranh lợi nhuận trong quý II lại có diễn biến đáng chú ý khi lợi nhuận gộp giảm mạnh.
Trong quý II, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của EVN tăng hơn 16%, đạt 163.699 tỷ đồng, nhưng giá vốn tăng nhanh hơn, lên 160.544 tỷ đồng, tương ứng tăng 25,2%. Điều này khiến lợi nhuận gộp chỉ còn hơn 3.154 tỷ đồng, giảm gần 75% so với quý II/2025. Biên lợi nhuận gộp theo đó thu hẹp xuống còn 1,9% trong quý II năm nay.
Nếu nhìn vào cơ cấu chi phí, lợi nhuận của công ty mẹ EVN trong nửa đầu năm chịu tác động trái chiều. Giá vốn hàng bán tăng từ 246.156 tỷ đồng lên 286.763 tỷ đồng, tương ứng tăng 16,5%, cao hơn tốc độ tăng 14,3% của doanh thu.
Ngược lại, chi phí tài chính giảm hơn 72%, từ 6.643 tỷ đồng cùng kỳ năm trước xuống còn 1.835 tỷ đồng. Khoản chi phí này giảm khoảng 4.808 tỷ đồng, trong đó phần lớn đến từ việc lỗ tỷ giá chưa thực hiện và chi phí tài chính khác giảm mạnh.
Cụ thể, lỗ chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện giảm từ 2.712 tỷ đồng xuống 12,8 tỷ đồng, tương ứng giảm gần 2.699 tỷ đồng. Chi phí tài chính khác cũng giảm gần 1.978 tỷ đồng, còn 454,5 tỷ đồng.
| Chỉ tiêu | Quý II/2026 | Quý II/2025 | Thay đổi |
| Doanh thu | 163.699 tỷ đồng | 140.683 tỷ đồng | +16,3% |
| 160.544 tỷ đồng | 128.255 tỷ đồng | +25,2% | |
| Lợi nhuận gộp | 3.154 tỷ đồng | 12.428 tỷ đồng | -74,6% |
Ở chiều doanh thu, hoạt động tài chính cũng đóng góp đáng kể vào kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm. Doanh thu hoạt động tài chính đạt 3.012 tỷ đồng, tăng 29% so với cùng kỳ. Trong đó, lãi tiền gửi và tiền cho vay đạt 2.854 tỷ đồng, tăng 1.375 tỷ đồng, tương đương gần 93%.
Khoản thu từ tiền gửi và tiền cho vay tăng mạnh trong bối cảnh EVN duy trì lượng tiền gửi lớn tại ngân hàng. Trong khi đó, lãi chênh lệch tỷ giá đã thực hiện đạt 158 tỷ đồng, giảm khoảng 16 tỷ đồng so với cùng kỳ.
EVN lý giải giá vốn tăng nhanh hơn doanh thu
Trao đổi với phóng viên Dân trí, đại diện EVN cho biết quý II là thời điểm bước vào cao điểm mùa khô, thời tiết nắng nóng gay gắt làm nhu cầu sử dụng điện cho các thiết bị làm mát, điển hình là điều hòa nhiệt độ, của người dân và doanh nghiệp tăng vọt.
Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tăng lên đáng kể, đơn vị vận hành hệ thống điện quốc gia phải huy động tối đa các nguồn điện, bao gồm cả những nguồn có giá thành phát điện cao hơn.
"Trong khi đó, giá các loại nhiên liệu chính phục vụ phát điện như than, khí đốt chịu ảnh hưởng lớn từ biến động thị trường năng lượng thế giới, làm tăng chi phí đầu vào mà EVN phải chi trả cho các đơn vị bán điện", đại diện EVN cho biết.
Mặc dù vậy, EVN và các đơn vị thành viên đã triển khai đồng bộ các giải pháp tiết kiệm, tiết giảm chi phí và tăng doanh thu từ các hoạt động liên quan đến sản xuất, kinh doanh điện, cũng như các khoản thu nhập từ hoạt động tài chính để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Công nhân ngành điện thi công đường dây 110kV Phú Quốc - Bắc Phú Quốc và đường dây 110kV Phú Quốc - Nam Phú Quốc, với mục tiêu đóng điện trong tháng 8 (Ảnh: Nam Anh)
Theo TS Nguyễn Huy Hoạch, chuyên gia năng lượng, thành viên Hội đồng Khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam, cần thận trọng khi đánh giá chất lượng sự phục hồi tài chính của EVN chỉ dựa trên con số lợi nhuận cuối cùng.
Ông cho rằng lợi nhuận của một doanh nghiệp điện không chỉ phụ thuộc vào doanh thu bán điện và giá vốn. Các khoản thu nhập tài chính, chi phí tài chính, chênh lệch tỷ giá, kết quả đầu tư và những khoản mục khác cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả cuối cùng.
Vì vậy, điều cần quan tâm trong những năm tới không chỉ là EVN tiếp tục có lãi, mà là khả năng duy trì mức lợi nhuận đủ ổn định từ hoạt động sản xuất, kinh doanh cốt lõi, tạo ra dòng tiền phù hợp với nhu cầu đầu tư và nghĩa vụ tài chính.
Việc công ty mẹ EVN chuyển sang có lợi nhuận sau thuế chưa phân phối hơn 3.000 tỷ đồng vào cuối tháng 6 là một dấu mốc tích cực. Nhưng nếu nhìn về phía trước, quy mô lợi nhuận này vẫn còn khá nhỏ so với nhu cầu vốn của ngành điện.
EVN đang phải chuẩn bị cho một chu kỳ đầu tư mới, trong đó có các dự án nguồn điện quy mô lớn, các dự án lưới điện truyền tải và những công trình phục vụ yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng.
Vị chuyên gia cho biết đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi lượng vốn rất lớn, thời gian chuẩn bị và thực hiện dài; đồng thời có yêu cầu cao về khả năng huy động vốn.
Do đó, phần lợi nhuận giữ lại của EVN trong những năm tới sẽ không chỉ có ý nghĩa đối với việc cải thiện bảng cân đối kế toán, mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng tham gia vốn chủ sở hữu, tạo điều kiện huy động các nguồn vốn tín dụng và nâng cao khả năng hấp thụ các dự án đầu tư mới.
TS Nguyễn Huy Hoạch cũng lưu ý việc Công ty mẹ EVN chuyển sang có lợi nhuận sau thuế chưa phân phối dương không đồng nghĩa với việc có thể lấy toàn bộ kết quả này để suy ra khả năng giảm giá điện.
Giá điện cần được xem xét trên cơ sở tổng thể các chi phí hợp lý, biến động đầu vào, yêu cầu đầu tư, vận hành hệ thống và các quy định hiện hành về cơ chế giá điện. Ngoài ra, các nguồn nhiên liệu đang có xu thế tăng trở lại, đặc biệt là than và LNG nhập khẩu.
Hơn nữa, EVN không chỉ có nhiệm vụ kinh doanh điện, mà còn phải bảo đảm cung ứng điện trong những thời điểm phụ tải tăng cao, đầu tư nguồn và lưới điện, duy trì dự phòng cần thiết và thực hiện các nhiệm vụ khác được giao...