Theo Điều 107 Bộ luật Lao động 2019, thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.
Người sử dụng lao động chỉ được tổ chức làm thêm giờ khi có sự đồng ý của người lao động. Số giờ làm thêm của người lao động không được quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày.

Nhân viên văn phòng (Ảnh minh họa: Freepik).
Trường hợp doanh nghiệp áp dụng thời giờ làm việc bình thường theo tuần, tổng số giờ làm việc bình thường và làm thêm không được quá 12 giờ/ngày và 40 giờ/tháng. Tổng số giờ làm thêm của người lao động cũng không được vượt quá 200 giờ/năm.
Tuy nhiên, pháp luật cho phép một số trường hợp được tổ chức làm thêm đến 300 giờ/năm. Quy định này áp dụng đối với một số ngành, nghề như sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước.
Mức tối đa 300 giờ làm thêm/năm cũng được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp cần giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời.
Ngoài ra, quy định này được áp dụng khi doanh nghiệp phải xử lý công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm; giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất.
Khi tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ/năm, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc UBND cấp tỉnh theo quy định.
Về chế tài, theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 10/9), người sử dụng lao động có thể bị phạt tiền từ 20 đến 25 triệu đồng nếu huy động người lao động làm thêm giờ mà không được sự đồng ý của người lao động hoặc thực hiện thời giờ làm việc bình thường quá số giờ theo quy định của pháp luật.
Điều 7 Nghị định 283 quy định mức phạt nêu trên áp dụng đối với cá nhân. Đối với tổ chức, doanh nghiệp, mức phạt tiền bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân. Như vậy, doanh nghiệp vi phạm có thể bị phạt tới 50 triệu đồng.
Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định những trường hợp đặc biệt mà người sử dụng lao động có thể yêu cầu người lao động làm thêm giờ, vào bất kỳ ngày nào, mà không bị giới hạn về số giờ làm thêm; đồng thời, người lao động không được từ chối.
Theo Điều 108 Bộ luật Lao động 2019, đó là trường hợp thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật; thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa.
Song, quy định này không áp dụng nếu công việc có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Theo Nghị định số 283, người sử dụng lao động không bảo đảm thời gian nghỉ trong giờ làm việc hoặc nghỉ chuyển ca theo quy định; huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá số giờ pháp luật cho phép cũng bị xử phạt.
Mức phạt đối với cá nhân lần lượt là 5-10 triệu đồng nếu vi phạm với 1-10 người lao động; 10-20 triệu đồng với 11-50 người; 20-40 triệu đồng với 51-100 người; 60-75 triệu đồng với từ 301 người lao động trở lên.
Bên cạnh đó, nếu không bảo đảm cho người lao động nghỉ việc riêng hoặc nghỉ không hưởng lương theo quy định; không thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền về việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ/năm, người sử dụng lao động có thể bị phạt từ 2 đến 5 triệu đồng.
Mức phạt đối với tổ chức, doanh nghiệp cũng được áp dụng bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân.