Chuyển đổi số không thể dừng ở phần mềm khi người dân vẫn phải chờ lâu

(Dân trí) - Dù hạ tầng kết nối và tỷ lệ số hóa thủ tục hành chính tại nước ta có bước tiến lớn, bài toán chuyển đổi số quốc gia vẫn có nhiều điểm nghẽn.

Hồ sơ trực tuyến tăng, nhưng tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu thấp

Chuyển đổi số không thể dừng ở phần mềm khi người dân vẫn phải chờ lâu

Ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch VDCA, phát biểu tại tọa đàm (Ảnh: Ban tổ chức).

Chuyển đổi số hiện được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị.

Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay là tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu liên thông và nhiều quy trình nghiệp vụ vẫn vận hành theo tư duy cũ.

Đây là nhận định của ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch VDCA, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông. Nhận định trên được ông Hồng nêu tại tọa đàm "Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia" ngày 24/9 vừa qua.

Minh chứng cho thực trạng này, ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), cho rằng có khoảng cách trong thực thi chuyển đổi số giữa các bộ, ngành và địa phương.

Dẫn số liệu 5 tháng đầu năm nay, đại diện Cục Chuyển đổi số quốc gia cho biết, khoảng cách lớn nhất nằm ở khả năng tái sử dụng dữ liệu. Tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu tại các bộ, ngành chỉ đạt hơn 5%, trong khi địa phương đạt 96%.

Ông Kiên nêu 6 nhóm điểm nghẽn trọng yếu đang kìm hãm tiến trình, gồm: dữ liệu chưa “đúng, đủ, sạch, sống”. Hiện vẫn còn 4/12 cơ sở dữ liệu trọng yếu và 39/104 cơ sở dữ liệu theo Nghị quyết 11 chưa kết nối, đồng bộ.

Bên cạnh đó, quy trình chưa tái cấu trúc triệt để (80/775 thủ tục hành chính chưa được tái cấu trúc) và nền tảng còn phân mảnh, gây chồng chéo thao tác cho cán bộ.

Ngoài ra, còn khoảng 30% hạ tầng máy tính cơ sở chưa đạt chuẩn an toàn; thiếu hụt nhân lực chuyên trách và sự chậm trễ trong thủ tục giải ngân tài chính.

Bài toán thực tiễn từ địa phương

Từ góc độ địa phương, đại diện các sở Khoa học và Công nghệ cho rằng, chính sách công nghệ cần tính đến năng lực ngân sách và điều kiện địa lý đặc thù.

Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Đà Nẵng, chia sẻ, thành phố đặt ra mục tiêu chiến lược không chỉ giữ vững vị thế trung tâm du lịch mà còn hướng tới tầm nhìn trở thành một đô thị AI tiêu biểu trong khu vực.

Để hiện thực hóa khát vọng này theo tinh thần nghị quyết của Bộ Chính trị, Đà Nẵng đã gặt hái nhiều thành tựu thiết thực, mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp địa phương.

Tuy nhiên, theo bà Quyên, trong quá trình triển khai, Đà Nẵng vẫn gặp phải không ít khó khăn, thách thức.

Để tiếp tục tháo gỡ các "điểm nghẽn" thể chế và đưa chuyển đổi số quốc gia bước vào giai đoạn phát triển chiều sâu, thực chất, mang lại giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế, lãnh đạo TP Đà Nẵng đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm:

Đẩy mạnh chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia cốt lõi và mở rộng phạm vi sandbox (thí điểm có kiểm soát) đối với tài sản số, blockchain, đô thị thông minh.

Thứ hai, cho phép các đô thị lớn có cơ chế đãi ngộ đặc thù để thu hút chuyên gia AI, bán dẫn...

Thứ ba, thay đổi thước đo chuyển đổi số theo hướng thực chất: đo bằng thời gian, chi phí tiết kiệm và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp, kết hợp với tỷ lệ đóng góp của kinh tế số vào GRDP.

Chuyển đổi số không thể dừng ở phần mềm khi người dân vẫn phải chờ lâu

Các chuyên gia tham dự toạ đàm (Ảnh: Ban tổ chức).

Một vấn đề khác được ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Lạng Sơn, đề cập là việc duy trì, vận hành các hệ thống công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu sau khi được xây dựng.

"Việc các nhà cung cấp xây dựng hệ thống trên nền tảng công nghệ khác nhau khiến kết nối dữ liệu bị nghẽn, đồng thời địa phương thiếu nhân lực duy trì, vận hành dài hạn sau giai đoạn đầu tư", ông Huy bày tỏ.

Theo các chuyên gia, dữ liệu cần được nhìn nhận là tài nguyên mở và phân quyền quản lý theo hướng phân tán.

Ông Trịnh Tất Thắng, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, chia sẻ: "Nếu trước đây dữ liệu chưa được nhìn nhận đầy đủ thì hiện nay nó được xác định là một loại tài nguyên, cần được khai thác, chia sẻ để phục vụ phát triển xã hội và kinh tế số".

Dẫn ví dụ về việc kết nối dữ liệu giữa ngành giáo dục và y tế, ông Thắng chia sẻ: “Khi sử dụng dữ liệu về trường học kết hợp với dữ liệu dịch bệnh của ngành y tế, cơ quan quản lý có thể theo dõi tình hình dịch bệnh theo khu vực, xác định nơi có nhiều học sinh mắc bệnh và xây dựng bản đồ dịch bệnh.

Qua đó, dữ liệu có thể hỗ trợ cảnh báo sớm và đưa ra giải pháp phù hợp cho các cơ sở giáo dục”.

Bên cạnh đó, Hà Nội cũng đang thí điểm đưa toàn bộ dữ liệu đăng ký kinh doanh vào kho dùng chung nhằm chấm dứt tình trạng yêu cầu người dân nộp lại giấy tờ đã có trong hệ thống số.

Cần có cơ chế phối hợp ba bên

Trong phiên thảo luận, các chuyên gia công nghệ đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm khai thông điểm nghẽn về chuyển đổi số.

Về vấn đề hạ tầng, ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS), cảnh báo nguy cơ thiếu hụt hạ tầng trung tâm dữ liệu (Data Center) phục vụ AI trong 3-5 năm tới: "Nhiều tập đoàn công nghệ lớn đến tìm hiểu thị trường nước ta nhưng dòng vốn đầu tư hạ tầng dữ liệu hiện lại dịch chuyển sang Thái Lan, Malaysia".

Viện trưởng IPS khuyến nghị, cơ quan quản lý cần gấp rút ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật dữ liệu chung trong vòng 1 năm tới để làm cơ sở liên thông phần mềm và hình thành sàn giao dịch dữ liệu.

Đồng thời, cần nâng cao quy chuẩn an toàn AI trong công vụ, tránh rủi ro rò rỉ thông tin nghiệp vụ khi công chức đưa dữ liệu nội bộ lên các mô hình ngôn ngữ lớn hoặc chatbot bên ngoài.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Lê Xuân Sơn, Phó Tổng Giám đốc Công ty Công nghệ thông tin VNPT (VNPT-IT), nhấn mạnh, cần có cơ chế phối hợp ba bên: Nhà nước - địa phương - doanh nghiệp.

Cụ thể: Nhà nước ban hành hành lang pháp lý; địa phương xác định rõ đề bài; doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ.

Theo vị đại diện VNPT-IT, khó có thể áp dụng chung một khuôn mẫu giải pháp cho mọi tỉnh, thành.

"Việc đánh giá hiệu quả chuyển đổi số phải dựa trên kết quả đầu ra đo đếm được như thời gian giải quyết thủ tục được rút ngắn (từ nhiều ngày xuống vài giờ), số lần người dân phải đi lại chứ không chỉ dừng lại ở số tiền ngân sách đã giải ngân hay số phần mềm đã đưa vào vận hành", ông Sơn bày tỏ.

Bình luận
Bạn cần đăng nhập để bình luận.
Chưa có bình luận nào.