Khơi thông “mỏ vàng” du lịch y tế

Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế để phát triển du lịch y tế. Đây thật sự là “mỏ vàng” trong việc đóng góp vào sự tăng trưởng hai con số của thành phố nếu ngành du lịch có những giải pháp khơi thông, phát huy lợi thế đặc biệt này một cách hiệu quả.

Tại tọa đàm “Khơi thông ‘mỏ vàng’ du lịch y tế” do Báo Dân trí tổ chức mới đây, Tiến sĩ điều dưỡng Huỳnh Thị Phượng, nguyên Điều dưỡng trưởng Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển du lịch y tế.

Thống kê của Bộ Y tế cho thấy, ước tính mỗi năm có trên 300.000 khách nước ngoài đến Việt Nam du lịch kết hợp sử dụng dịch vụ y tế, với tổng mức chi tiêu (bao gồm khám-chữa bệnh, lưu trú, đi lại, dịch vụ đi kèm) dao động 1-2 tỷ USD.

Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm y tế lớn nhất cả nước nên nắm giữ tỷ trọng đóng góp cao nhất. Bên cạnh nhu cầu thị trường dồi dào, thành phố còn sở hữu nền tảng hạ tầng y tế hùng hậu, với nhiều bệnh viện công lập và tư nhân chất lượng cao. Cùng với đó, thành phố có mạng lưới hơn 11.000 phòng khám đa khoa và chuyên khoa rộng khắp.

Về sản phẩm thế mạnh, Tiến sĩ Huỳnh Thị Phượng cho rằng không chỉ nha khoa và thẩm mỹ, nhiều lĩnh vực chuyên sâu như tim mạch, hỗ trợ sinh sản (IVF), phục hồi chức năng, y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại, cũng có tiềm năng trở thành sản phẩm du lịch y tế ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.

Khơi thông “mỏ vàng” du lịch y tế
Các diễn giả tại tọa đàm “Khơi thông ‘mỏ vàng’ du lịch y tế” do Báo Dân Trí tổ chức. (Ảnh: Ban tổ chức cung cấp)

“Nhóm dịch vụ hỗ trợ sinh sản có lợi thế khi chất lượng chuyên môn của Việt Nam phát triển nhanh, trong khi chi phí được cho là cạnh tranh so với một số thị trường trong khu vực. Các dịch vụ phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi cũng phù hợp với mô hình kết hợp điều trị và nghỉ dưỡng dài ngày”, Tiến sĩ Huỳnh Thị Phượng đánh giá.

Tiến sĩ, bác sĩ Võ Tiến Huy (Richard Huy), Giám đốc chuyên môn Bệnh viện Thẩm mỹ Kangnam nhận định, nước ta có cơ hội lớn trong lĩnh vực du lịch y tế, đặc biệt là thẩm mỹ, với nhiều lợi thế.

Ông phân tích, lợi thế đầu tiên là chi phí cạnh tranh, nhưng giá không thể là yếu tố quyết định lâu dài. Muốn thu hút khách quốc tế, các cơ sở y tế phải nâng cao chất lượng chuyên môn, hoàn thiện quy trình vận hành và dịch vụ hậu mãi.

Thực tế hiện nay, lượng kiều bào trở về Việt Nam làm thẩm mỹ và nha khoa khá đáng kể. Ngoài yếu tố chi phí, khách hàng còn quan tâm tay nghề bác sĩ, sự phù hợp với đặc điểm người Việt và mức độ an toàn. Với khách hàng ở nước ngoài, quy trình chăm sóc phải bắt đầu từ trước khi họ về Việt Nam. Cơ sở y tế cần tư vấn từ xa, hướng dẫn chuẩn bị xét nghiệm, thăm khám kỹ, lựa chọn dịch vụ phù hợp và xây dựng quy trình theo dõi sau điều trị.

Khơi thông “mỏ vàng” du lịch y tế
Khách tham quan Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: LINH BẢO)

Tiến sĩ, điều dưỡng Huỳnh Thị Phượng cũng cho rằng, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung không nên phát triển du lịch y tế theo hướng “giá rẻ”. Để thu hút phân khúc khách hàng cao cấp, cơ sở y tế phải nâng cấp hạ tầng, không gian điều trị và dịch vụ, minh bạch về chất lượng chuyên môn, an toàn và chi phí, cũng như phát triển đội ngũ chăm sóc viên chuyên nghiệp.

Tiến sĩ Huỳnh Thị Phượng nhấn mạnh: Sự an toàn, chất lượng điều trị và kiểm soát nhiễm khuẩn là những yếu tố quyết định niềm tin của khách quốc tế. Các cơ sở muốn tham gia du lịch y tế cần đáp ứng đầy đủ tiêu chí chất lượng trong nước và hướng tới các chứng nhận quốc tế uy tín như JCI, ISO.

Theo bà Vương Đình Nguyên Hằng, Phó Trưởng Phòng Quản lý cơ sở lưu trú, Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, điểm nghẽn hiện nay để du lịch y tế thật sự trở thành “mỏ vàng” chính là sản phẩm và dịch vụ còn rời rạc, chưa tạo thành một hành trình hoàn chỉnh.

Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng cẩm nang du lịch y tế, các video giới thiệu sản phẩm, đồng thời tổ chức những chương trình kết nối giữa ngành du lịch và cơ sở y tế. Thành phố cũng đã phối hợp với doanh nghiệp xây dựng hơn 30 chương trình du lịch y tế.

Khơi thông “mỏ vàng” du lịch y tế
Triển lãm các sản phẩm phục vụ du lịch y tế.(Ảnh: Sở Du lịch)

“Dù vậy, nguồn nhân lực vừa có chuyên môn vừa đáp ứng ngoại ngữ còn hạn chế; công tác truyền thông, quảng bá và một số vấn đề liên quan bảo hiểm vẫn cần tiếp tục tháo gỡ”, bà Vương Đình Nguyên Hằng chia sẻ.

Bà Vương Đình Nguyên Hằng thông tin thêm, chính sách visa hiện đã có nhiều cải tiến, cho phép khách quốc tế lưu trú tới 90 ngày. Tuy nhiên, khách du lịch y tế có đặc thù khác khách du lịch thông thường.

Đại diện Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng chưa nhất thiết phải xây dựng một loại visa riêng cho du lịch y tế. Thay vào đó, cần phối hợp giữa ngành du lịch, y tế, xuất nhập cảnh và ngoại giao để tạo quy trình thông suốt từ xin visa, nhập cảnh, khám-chữa bệnh đến nghỉ dưỡng.

Một đề xuất đáng chú ý khác của giới chuyên môn là thành lập “Liên minh du lịch y tế”, kết nối bệnh viện, phòng khám với hãng hàng không, khách sạn, doanh nghiệp lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ.

Tiến sĩ, bác sĩ Võ Tiến Huy nhận định, việc xây dựng hệ sinh thái du lịch y tế là yêu cầu cần thiết. Người bệnh có thể tận dụng thời gian nghỉ hậu phẫu hoặc chờ điều trị để nghỉ dưỡng, tham quan phù hợp. Sự phối hợp giữa bệnh viện, doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú sẽ giúp khách hàng có trải nghiệm trọn vẹn hơn.

Theo bà Vương Đình Nguyên Hằng, Phó Trưởng Phòng Quản lý cơ sở lưu trú, Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, du lịch là ngành có tính liên kết. Một bệnh viện có dịch vụ tốt nhưng thiếu vận chuyển, lưu trú, lữ hành và dịch vụ hỗ trợ thì chưa thể tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh. Như vậy, khi các mắt xích từ y tế, lưu trú, lữ hành, vận chuyển đến dịch vụ hỗ trợ được kết nối, Thành phố Hồ Chí Minh mới có thể tạo ra những hành trình đủ sức thuyết phục du khách đến chăm sóc sức khỏe và trải nghiệm thành phố.

Bộ Y tế đã soạn thảo và lấy ý kiến các bên về dự thảo Đề án phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030.

Dự thảo Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đón khoảng 750.000 lượt khách du lịch y tế quốc tế; doanh thu trực tiếp từ dịch vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe được đặt mục tiêu đạt khoảng 1 tỷ USD; tổng chi tiêu của khách và người đi cùng khoảng 2,5 tỷ USD.

Cụ thể, Dự thảo Đề án phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030 nêu 2 giai đoạn triển khai:

- Giai đoạn 1, từ năm 2026 đến năm 2028, tập trung từng bước hoàn thiện thể chế và triển khai thí điểm mô hình du lịch y tế tích hợp tại từ 5 đến 7 địa bàn trọng điểm.

- Giai đoạn 2, từ năm 2029 đến năm 2030, triển khai trên phạm vi toàn quốc; sơ kết giữa kỳ vào cuối năm 2029 và tổng kết vào năm 2030.

Theo dự thảo, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có tối thiểu 20 bệnh viện đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, trong đó có ít nhất 5 bệnh viện công lập.

Bình luận
Bạn cần đăng nhập để bình luận.
Chưa có bình luận nào.