Đó là một vòng tuần hoàn nơi mỗi tờ vé không chỉ nuôi sống người bán mà còn tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách và quay trở lại cộng đồng qua những công trình phúc lợi.
Một tờ vé số đi qua bao nhiêu bàn tay?
Mỗi sáng, bà Tư Hiền (77 tuổi) lại mang xấp vé số len giữa dòng người trên chợ nổi Long Xuyên. Ở Cần Thơ, ông Nguyễn Văn Lợi vẫn tự đẩy chiếc xe lăn đi khắp các tuyến phố để bán hơn một trăm tờ vé mỗi ngày. Còn bà Hà Thị Danh, ngoài 70 tuổi, đều đặn rong ruổi trên những con đường quen thuộc với mong muốn đủ tiền thuê trọ và bữa cơm cho ngày hôm sau.
Sau câu chuyện về những người nghèo đi "phân phát vận may", sau những bước chân mưu sinh lặng lẽ trên phố đó vẫn còn một câu hỏi lớn, vì sao một tờ giấy nhỏ trị giá 10.000 đồng lại có thể trở thành kế sinh nhai của hàng trăm nghìn con người?
Đó chính là hành trình sứ mệnh của tờ vé số. Ít ai để ý, trước khi xuất hiện trên tay người bán dạo ở góc chợ hay quán cà phê, mỗi tờ vé số đã đi qua cả một hệ thống phân phối được tổ chức chặt chẽ và vận hành liên tục suốt nhiều thập kỷ.

Bán vé số trở thành nghề mưu sinh của nhiều người ở miền Tây (Ảnh: CTV).
Theo ông Âu Văn Dự, Giám đốc Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết (XSKT) Sóc Trăng, điểm xuất phát của hành trình là các công ty XSKT thuộc sở hữu Nhà nước. Sau khi in, vé không được bán trực tiếp cho người dân mà chuyển đến các đại lý cấp 1 - những đầu mối ký hợp đồng với công ty và có mạng lưới phân phối rộng khắp.
Muốn trở thành đại lý cấp 1, điều quan trọng không hẳn là tiềm lực tài chính mà là khả năng tiêu thụ. Càng có nhiều đại lý cấp dưới và thị trường càng rộng, lượng vé được phân phối càng lớn. Từ đây, những tờ vé tiếp tục đi qua đại lý cấp 2, cấp 3 rồi mới đến tay những người bán dạo như bà Tư Hiền, ông Lợi hay bà Danh.
Ở mắt xích cuối cùng, tờ vé số mới vang vọng ở từng góc đường, con ngõ: “Mua giúp cô vài tờ lấy hên đi con!”. Sau lời mời khách là cả chuỗi phân phối của hệ thống “sinh kế” vé số ấy.
Cũng nhiều người nghĩ rằng 10.000 đồng bán một tờ vé số sẽ trở thành doanh thu của công ty phát hành XSKT. Thực tế, khoản tiền ấy được chia thành nhiều phần ngay từ khi tờ vé được bán. Phần lớn được dành để chi trả giải thưởng nhằm duy trì sức hấp dẫn của loại hình XSKT.
Một phần khác là hoa hồng cho hệ thống đại lý và những người trực tiếp bán vé. Sau khi trừ chi phí phát hành, vận hành và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, phần lợi nhuận còn lại mới được nộp vào ngân sách địa phương.
Theo ông Âu Văn Dự, đại lý cấp 1 hiện được hưởng mức hoa hồng khoảng 15%, trong khi người bán vé số dạo nhận từ 10% trở lên, tương đương khoảng 1.000-1.200 đồng mỗi tờ, tùy chính sách của từng đại lý.
Với mức chiết khấu ấy, nếu bán hết khoảng 200 tờ trong một ngày, người bán có thể thu về khoảng 200.000-240.000 đồng. Đó không phải khoản thu nhập cao, nhưng đủ để nhiều người già, người khuyết tật hay lao động mất việc duy trì cuộc sống và tiếp tục mưu sinh.
Ở chiều ngược lại, lợi nhuận của các đại lý không nằm ở từng tờ vé số mà ở quy mô phân phối. Có những đại lý mỗi ngày đưa ra thị trường hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn tờ vé.
Nhìn theo cách đó, một tờ vé số 10.000 đồng không chỉ tạo thu nhập cho người bán rong trên đường phố. Nó còn vận hành cả một chuỗi sinh kế, từ doanh nghiệp phát hành, hệ thống đại lý cho tới hàng trăm nghìn người bán dạo.
Và nghề bán vé số dạo vẫn có đất sống trong chuỗi sinh kế đó vì không giống những công việc khác. Bán vé số gần như không đòi hỏi bằng cấp, tay nghề hay vốn đầu tư lớn. Người bán chỉ cần nhận vé từ đại lý quen là có thể bắt đầu một ngày mưu sinh. Đó là lý do nghề này trở thành điểm tựa của nhiều nhóm lao động yếu thế như người cao tuổi, người khuyết tật, lao động mất việc, người nhập cư hoặc những người không còn đủ sức làm các công việc nặng nhọc.

Nhiều người bán vé số xem nghề này là miếng cơm manh áo hàng ngày (Ảnh: CTV).
Thu nhập từ bán vé số không cao nhưng đổi lại là sự chủ động. Bán được bao nhiêu, người bán biết ngay cuối ngày mình có bấy nhiêu tiền để trang trải cuộc sống. “Không ai giàu nhờ bán vé số, nhưng nhiều người có thể tự nuôi sống mình nhờ nghề này”, một chủ đại lý vé số lâu năm ở Cần Thơ chia sẻ.
Có lẽ vì vậy mà mỗi khi thị trường lao động gặp khó khăn, lực lượng bán vé số dạo lại đông lên. Với nhiều người, đây không phải lựa chọn đầu tiên, nhưng là lựa chọn cuối cùng để giữ lấy sinh kế. Nhìn từ góc độ đó, bán vé số không đơn thuần là một nghề mưu sinh mà còn là "van" an sinh tự nhiên, giúp không ít người có thể kiếm sống bằng chính sức lao động của mình.
Giá trị tờ vé số không dừng ở 10.000 đồng
Để chuỗi “sinh kế vé số” vận hành được, điều kiện đặc biệt nhất là người mua. Điều thú vị là đa số người mua vé số đều hiểu rất rõ cơ hội trúng giải, nhất là độc đắc rất thấp, chỉ là một phần triệu. Họ biết khả năng đổi đời là rất nhỏ.
Nhưng người miền Tây vẫn mua hàng triệu tờ vé số mỗi ngày, vì: "Tôi mua ủng hộ bà cụ"; "Mua giúp chú ấy bán hết để về sớm"; "Coi như vừa thử vận may, vừa giúp người ta"… Những lời lý giải đơn thuần ấy hé lộ nét văn hóa rất riêng của vùng đất này. Ở miền Tây, việc mua vé số từ lâu không còn đơn thuần là một giao dịch mua - bán. Trong nhiều trường hợp, đó còn là một cách sẻ chia.

Mua vé số không chỉ thử vận may mà còn là để sẻ chia với những người bán có hoàn cảnh khó khăn (Ảnh: CTV).
Người bán vẫn giữ được sự tự trọng vì không đi xin mà bán sức lao động của mình. Người mua cũng không có cảm giác đang làm từ thiện, bởi họ nhận lại một tờ vé mang theo hy vọng trúng độc đắc cả tỷ đồng.
Sự gặp nhau giữa nhu cầu mưu sinh và lòng trắc ẩn đã tạo nên sức sống đặc biệt của thị trường vé số truyền thống suốt nhiều thập kỷ.
Và khi người mua thấp thỏm dò kết quả vào cuối buổi chiều, hành trình của tờ vé số thực ra vẫn chưa kết thúc. Sau khi chi trả giải thưởng, hoa hồng cho hệ thống đại lý, chi phí phát hành và thực hiện các nghĩa vụ tài chính, phần lợi nhuận còn lại của các công ty XSKT được nộp vào ngân sách địa phương theo quy định. Nguồn thu này tiếp tục được đầu tư cho giáo dục, y tế và nhiều công trình hạ tầng phục vụ cộng đồng.
Nói cách khác, hành trình của một tờ vé số tạo nên một vòng tuần hoàn khá đặc biệt. Nó bắt đầu từ doanh nghiệp nhà nước, đi qua hệ thống đại lý, trở thành sinh kế của hàng trăm nghìn người bán vé số dạo rồi quay trở lại xã hội dưới hình hài của những cây cầu, trường học, bệnh viện hay công trình dân sinh.
Những bước chân lang thang khắp phố của bà Tư Hiền, ông Nguyễn Văn Lợi hay bà Hà Thị Danh mỗi ngày là vòng tuần hoàn của hệ sinh thái kinh tế vận hành âm thầm nhưng bền bỉ suốt nhiều thập kỷ.

Nhiều hoạt động an sinh xã hội ở các địa phương có từ nguồn thu xổ số (Ảnh: CTV).
Một tờ vé số chỉ có giá 10.000 đồng nhưng giá trị nó tạo ra là cơ hội thử vận may cho người mua, thu nhập cho người bán, việc làm cho hệ thống đại lý, nguồn đóng góp cho ngân sách địa phương và cuối cùng là trở về phục vụ chính cộng đồng nơi những người bán vé số sinh sống.
Có lẽ vì thế giữa nhịp sống ngày càng hiện đại, lời mời quen thuộc “mua giúp cô vài tờ lấy hên” vẫn hiện hữu trên những con phố miền Tây. Hành trình của một tờ vé số đi qua rất nhiều bàn tay, mang theo sinh kế của nhiều phận người và góp phần tạo nên giá trị xã hội đặc biệt mà không phải loại hàng hóa nào cũng có.