Làng nghề nón ngựa Phú Gia (thôn Phú Gia, xã Xuân An, Gia Lai) mỗi năm cung cấp ra thị trường khoảng 60.000 chiếc nón.
Trong khi nón thông thường có giá sỉ 80.000-150.000 đồng/chiếc, những chiếc nón ngựa truyền thống cao cấp lại có giá lên tới 1,5-6 triệu đồng. Đặc biệt, các sản phẩm được bịt bạc, đồng, chạm trổ hoa văn long, lân, quy, phụng có thể đạt mức 8-10 triệu đồng, thậm chí cao hơn tùy theo yêu cầu của khách hàng.

Nghệ nhân Ưu tú Đỗ Văn Lan (áo trắng) giới thiệu sản phẩm nón ngựa truyền thống của làng nghề (Ảnh: Doãn Công).
Sự chênh lệch giá trị này không chỉ đến từ nguyên liệu mà còn phản ánh sự kỳ công, tỉ mỉ của người nghệ nhân trong từng công đoạn, từ chọn lựa, sơ chế đến hoàn thiện sản phẩm.
Nghệ nhân Ưu tú Đỗ Văn Lan (79 tuổi), một trong những người giữ lửa nghề tại Phú Gia, chia sẻ về quy trình chế tác. Nguyên liệu chính bao gồm cây giang để làm khung, lá kè (cọ) để lợp bên ngoài và rễ cây dứa rừng được chải thành sợi nhỏ làm chỉ thêu.
Để có được chiếc nón ngựa bền đẹp, lá kè phải trải qua quá trình phơi nắng, sấy qua lửa than và phơi sương để đạt độ mềm dẻo lý tưởng, không quá non cũng không quá già. Sườn nón từ cây giang được nạo sạch vỏ, phơi khô và chẻ nhỏ. Đặc biệt, rễ cây dứa rừng dùng uốn vành nón phải là loại 3-4 năm tuổi để đảm bảo độ chắc bền và chống mối mọt.
Ông Lan tiết lộ: “Ngày xưa, người dân làng nghề thường tước phần tơ của lá cây dứa sau khi ngâm nước cả tuần để chằm nón. Ngày nay, chúng tôi sử dụng thêm chỉ màu và sợi cước nhỏ, giúp tạo ra những đường nét sắc sảo hơn. Sợi cước có ưu điểm dẻo dai, mềm mại, độ đàn hồi tốt và giá thành rẻ”.

Thời xưa, nón ngựa chủ yếu dành cho tầng lớp quyền quý, đặc biệt là những chiếc nón bịt bạc, chạm khắc hình rồng, phượng trên đỉnh (Ảnh: Doãn Công).
Để làm ra chiếc nón ngựa truyền thống trị giá 10 triệu đồng, người thợ phải có tay nghề cao và mất khoảng 20 ngày công. Điểm nhấn của những chiếc nón này là chóp được bịt bạc, đồng, chạm khắc các họa tiết long, lân, quy, phụng mang đậm dấu ấn phong kiến.
“Nón có giá trị cao thường được khách nước ngoài đặt mua. Vừa rồi, một vị khách ở Pháp đặt 3 chiếc, tôi đã chuyển cho con trai ở TPHCM để giao cho khách”, ông Lan chia sẻ.
Nón ngựa Phú Gia không chỉ là sản phẩm thủ công mà còn là biểu tượng của sự mạnh mẽ, uy nghiêm, gắn liền với vùng đất võ và nghĩa quân Tây Sơn thần tốc. Tên gọi “nón ngựa” xuất phát từ đặc tính dẻo dai, bền chắc, phù hợp để đội khi cưỡi ngựa.
Trong quá khứ, nón ngựa là vật phẩm dành riêng cho tầng lớp quyền quý, đặc biệt là những chiếc nón bịt bạc, chạm khắc rồng phượng trên đỉnh, trở thành hình ảnh quen thuộc của các lý trưởng, chánh tổng thời phong kiến.

Tỉnh Gia Lai định hướng bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch cộng đồng (Ảnh: Doãn Công).
Năm 2024, nghề chằm nón ngựa Phú Gia đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tuy nhiên, làng nghề vẫn đối mặt với nhiều thách thức như đường vào nhỏ hẹp, thiếu bãi đỗ xe, nhà trưng bày xuống cấp và chưa có khu trình diễn, trưng bày tập trung.
UBND tỉnh Gia Lai đã phê duyệt đề án bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch cộng đồng, với tổng vốn dự kiến 37,6 tỷ đồng, trên phạm vi khoảng 100ha.
Mục tiêu đến năm 2030, tổ chức 2-3 lớp truyền nghề mỗi năm, số hóa toàn bộ dữ liệu nghề làm nón, có thêm 2-3 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu nghệ nhân ưu tú. Đặc biệt, làng nghề phấn đấu đón 8.000-10.000 lượt khách/năm, tăng doanh thu du lịch 10% mỗi năm.
Đề án nhấn mạnh bảo tồn là mục tiêu cốt lõi, du lịch là động lực phát huy giá trị di sản, với nghệ nhân và cộng đồng là chủ thể. Địa phương sẽ tập trung xây dựng lễ hội, đầu tư hạ tầng, phát triển 3 dòng sản phẩm gồm nón di sản, đương đại và lưu niệm.
Đồng thời, hình thành vùng nguyên liệu tại chỗ và đưa làng nghề vào các tour du lịch, đặc biệt là tuyến biển Quy Nhơn - Cao nguyên Pleiku, nhằm quảng bá và phát triển bền vững giá trị của nón ngựa Phú Gia.