Sáng 10/8, góp ý dự án luật sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đại biểu Trần Đình Gia (Hà Tĩnh) cho biết địa phương hiện có khoảng 11.000-12.000 người lao động ở nước ngoài.
Qua giám sát thực tế, ông Gia nêu một số vấn đề cần xem xét khi sửa luật để giải quyết triệt để, trong đó có tình trạng vi phạm hợp đồng, ở lại nước bạn bất hợp pháp sau khi hết hạn hợp đồng và chi phí xuất cảnh cao.
Chi phí thực tế cao hơn quy định
Theo đại biểu Trần Đình Gia, một số thị trường lao động không thu phí hoặc có mức phí thấp theo quy định. Tuy nhiên, thực tế người lao động vẫn phải chi những khoản tiền rất lớn, thậm chí tới hàng trăm triệu đồng để được xuất cảnh.
Ông Gia phân tích, đó là gánh nặng tài chính rất lớn đối với người lao động nghèo, đồng thời cho thấy kẽ hở cần được kiểm soát chặt chẽ bằng pháp luật.

Đại biểu Trần Đình Gia, đoàn Hà Tĩnh, phát biểu tại Quốc hội (Ảnh: Media QH).
Cùng quan tâm đến vấn đề này, đại biểu Chu Lương Trí (đoàn Quảng Ninh) đánh giá cao việc dự thảo luật quy định mức trần tiền dịch vụ và không cho phép thu tiền môi giới với người lao động. Tuy nhiên, theo ông, cơ quan soạn thảo cần xem xét tổng thể số tiền người lao động phải bỏ ra, thay vì chỉ quản lý từng khoản riêng lẻ.
Ngoài tiền dịch vụ, người lao động có thể phải trả các khoản liên quan đến đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng nghề, hồ sơ, thủ tục và những nội dung cần thiết khác. Các khoản thu nhỏ lẻ khi cộng lại có thể trở thành gánh nặng lớn.
Ông Trí đề nghị quy định rõ trong nghị định hướng dẫn về các nhóm chi phí, nguyên tắc xác định mức thu, trách nhiệm công khai và cung cấp chứng từ. Người lao động phải được thông báo đầy đủ tổng chi phí trước khi ký hợp đồng; mọi khoản thu đều cần có căn cứ rõ ràng.
Đại biểu này cũng đề nghị làm rõ quyền lợi của người Việt Nam được đưa ra nước ngoài dưới hình thức thực tập, đào tạo hoặc nâng cao kỹ năng nghề. Thực tế có trường hợp mang danh nghĩa thực tập, đào tạo nhưng công việc, thời gian và trách nhiệm không khác nhiều so với lao động chính thức.
Theo ông, dự thảo cần có tiêu chí phân biệt các hình thức này với hoạt động đưa người lao động đi làm việc theo hợp đồng.

Đại biểu Chu Lương Trí (đoàn Quảng Ninh) (Ảnh: Media QH).
Đề xuất liên thông dữ liệu quản lý lao động
Một bất cập khác được đại biểu Trần Đình Gia nêu là tình trạng người lao động vi phạm hợp đồng và cư trú bất hợp pháp. Nhiều người chỉ làm việc đúng hợp đồng vài tháng, sau đó tự ý ra ngoài làm để tìm thu nhập cao hơn.
Tình trạng này khiến một số thị trường thông báo dừng tiếp nhận lao động từ một số địa phương của Hà Tĩnh và các tỉnh miền Trung. Theo ông Gia, hậu quả không chỉ ảnh hưởng uy tín lao động Việt Nam mà còn làm mất cơ hội của những người có nhu cầu đi làm việc hợp pháp.
Ông đề nghị xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về người lao động đi làm việc ở nước ngoài, đồng thời thiết lập cơ chế chia sẻ, liên thông thông tin giữa các ngành lao động, du lịch, y tế, công an, ngoại giao và địa phương. Việc quản lý xuyên suốt sẽ giúp cơ quan chức năng theo dõi quá trình người lao động xuất cảnh, cư trú và làm việc ở nước ngoài.
Đại biểu Hà Tĩnh cũng đề xuất nghiên cứu biện pháp cấm xuất cảnh có thời hạn hoặc vĩnh viễn đối với người vi phạm hợp đồng, cư trú bất hợp pháp ở nước sở tại. Theo ông, cần có chế tài đủ nghiêm để người lao động nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và tránh ảnh hưởng đến cơ hội của những người khác.
Đối với trường hợp người Việt Nam vi phạm nghiêm trọng pháp luật nước sở tại, đại biểu Chu Lương Trí đề nghị bổ sung cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước tiếp nhận để phát hiện, xác minh, xử lý.
Theo ông, hành vi vi phạm trước hết phải được xử lý theo pháp luật và thẩm quyền của nước sở tại. Những vụ việc thuộc phạm vi hợp tác tư pháp cần thực hiện theo quy định, thỏa thuận giữa hai nước.
Cân nhắc mở rộng chủ thể đưa lao động ra nước ngoài
Đại biểu Chu Lương Trí cho rằng đa dạng hóa chủ thể tham gia có thể tạo cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, mở rộng cơ hội việc làm và góp phần giảm chi phí cho người lao động. Tuy nhiên, đây là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện nên việc mở rộng phải đi cùng yêu cầu kiểm soát chất lượng.
Dự thảo luật cho phép doanh nghiệp trực tiếp hoặc liên kết với cơ sở giáo dục, đào tạo để chuẩn bị nguồn lao động. Ông đề nghị nghiên cứu thêm vai trò của các cơ sở này trong quá trình đưa người lao động ra nước ngoài, bởi họ đang trực tiếp đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng nghề.
Nếu mở rộng phạm vi tham gia, dự thảo luật cần quy định rõ điều kiện, phạm vi hoạt động và trách nhiệm của từng chủ thể. Cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng phải theo dõi, tiếp nhận phản ánh, hỗ trợ và phối hợp bảo vệ quyền lợi của người lao động.
Theo đại biểu Trí, chính sách không chỉ hướng tới đưa được nhiều người ra nước ngoài làm việc mà còn phải bảo đảm họ được làm việc hợp pháp, an toàn, được bảo vệ quyền lợi và có điều kiện tái hòa nhập khi trở về.