Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký ban hành Nghị định số 365/2026 của Chính phủ về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10.
Nghị định quy định về kinh doanh xuất, nhập khẩu thóc, gạo các loại (gạo); hoạt động tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh, gia công gạo cho nước ngoài; hoạt động xuất khẩu không vì mục đích thương mại, viện trợ, biếu, tặng gạo không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.
Theo quy định, thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu đáp ứng đủ điều kiện và được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, được quyền kinh doanh xuất khẩu gạo theo quy định.
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, sau khi được cấp giấy chứng nhận, doanh nghiệp được thực hiện hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo theo quy định của Nghị định, pháp luật Việt Nam và các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Chỉ thương nhân được cấp giấy chứng nhận mới được nhận ủy thác xuất khẩu gạo.
Riêng thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng không phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, không phải có giấy chứng nhận, không phải thực hiện dự trữ lưu thông và không phải báo cáo theo quy định.
Đối với hoạt động nhập khẩu, thương nhân kinh doanh nhập khẩu gạo có trách nhiệm thông báo kế hoạch nhập khẩu với Bộ Công Thương.

Người miền Tây thu hoạch gạo (Ảnh: Bảo Trân).
Điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo
Theo Nghị định, thương nhân được thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật được kinh doanh xuất khẩu gạo khi đáp ứng các điều kiện: có ít nhất một kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát gạo đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Kho chứa thóc, gạo và cơ sở xay xát gạo có thể thuộc sở hữu của thương nhân hoặc được thuê của tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp thuê, thương nhân phải có hợp đồng bằng văn bản theo quy định pháp luật và bảo đảm thời hạn thuê phù hợp với thời hạn của giấy chứng nhận.
Thương nhân đã được cấp giấy chứng nhận không được cho thương nhân khác thuê các kho chứa thóc, gạo và cơ sở xay xát gạo đã được Bộ Công Thương ghi nhận trong giấy chứng nhận để làm căn cứ đề nghị cấp giấy này.
Bộ Công Thương cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo dưới hình thức bản giấy và bản điện tử khi áp dụng đối với thương nhân đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định.
Bộ Công Thương cũng có thể thu hồi giấy chứng nhận trong các trường hợp: thương nhân đề nghị thu hồi; giải thể, phá sản hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp, đăng ký đầu tư; không xuất khẩu gạo trong 12 tháng liên tục; không duy trì điều kiện kinh doanh, mức dự trữ theo quy định; kê khai gian dối hoặc có hành vi gian lận để được cấp Giấy chứng nhận; không thực hiện đúng chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền; không báo cáo sau 45 ngày được đôn đốc; hoặc theo đề xuất của cơ quan chức năng...
Thương nhân đã được cấp giấy chứng nhận theo Nghị định 107/2018 được tiếp tục xuất khẩu gạo đến hết thời hạn, không phải cấp lại, trừ trường hợp đề nghị cấp lại hoặc sửa đổi, bổ sung.
Thương nhân nhập khẩu gạo có 45 ngày kể từ khi Nghị định có hiệu lực để đăng ký kế hoạch nhập khẩu với Bộ Công Thương. Việc đánh giá mức độ tín nhiệm của thương nhân xuất khẩu gạo được thực hiện từ ngày 1/1/2028.
Các hồ sơ cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận đã nộp trước ngày Nghị định có hiệu lực tiếp tục được xử lý theo Nghị định 107/2018. Trường hợp quy định mới về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật chưa được ban hành, tiếp tục áp dụng quy định hiện hành cho đến khi có quy định mới.