Chuyển hóa sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hóa trong thời đại Kỷ nguyên mới

Thời đại Kỷ nguyên mới đã đến, văn hóa không chỉ là hồn cốt thiêng liêng mà phải trở thành sức mạnh vật chất - tinh thần của quốc gia, dân tộc Việt Nam. 

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 14 và Nghị quyết số 80 NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 và vươn lên 9% GDP vào năm 2045. Đây không đơn thuần là bài toán định lượng chỉ tiêu phát triển kinh tế, mà còn là tầm nhìn chiến lược về đổi mới phương thức phát triển quốc gia.

Tuy nhiên, từ tầm nhìn chiến lược đến khả năng đóng góp thực tế của văn hoá cho nền kinh tế đất nước vẫn còn không ít “khoảng trống”, trong đó ­­"khoảng trống về thể chế” cho phát triển công nghiệp văn hoá cần được khắc phục.

Muốn khơi thông và giải phóng sức sản xuất từ nguồn vốn văn hóa bằng đòn bẩy thể chế, dự án Luật phát triển công nghiệp văn hoá đang trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 16 cần có cách tiếp cận đúng đắn và đột phá, phù hợp với quy luật tất yếu gắn kết giữa chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội; bảo đảm thông suốt từ vai trò định hướng của Đảng, vai trò cung cấp khung khổ pháp lý kiến tạo và các dịch vụ công thiết yếu, mang tính “bệ đỡ” của Nhà nước đến các chủ thể trong hệ sinh thái công nghiệp văn hoá trong quá trình công nghiệp hoá, toàn cầu hoá.

Thể chế phát triển công nghiệp văn hoá cần hướng tới phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế, biến sáng tạo văn hoá thành nhân tố kích thích, làm bùng nổ sức sản xuất mới.

Bản chất kinh tế của công nghiệp văn hóa

Tại phiên họp thứ hai của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ hiện có bốn khoảng trống lớn đang cản trở tiến trình này, đặc biệt là khoảng trống thứ tư về "thể chế và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa", là nơi còn thiếu sự gắn kết đồng bộ giữa “thể chế, thị trường, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực cũng như cơ chế huy động các nguồn lực tổng hợp để chuyển hóa sức sáng tạo thành sức sản xuất mới”.

Đưa “văn hóa” trở thành động lực tăng trưởng kinh tế trực tiếp theo đúng định hướng của Đảng là một yêu cầu cấp bách và đang được Chính phủ cụ thể hoá bằng việc đề xuất xây dựng, ban hành nhiều cơ chế, chính sách, quyết định quan trọng thời gian qua. Nội dung cơ chế, chính sách được đề xuất trong dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hoá của Chính phủ (trình Quốc hội khoá 16 tại kỳ họp thứ hai [1]) cần thoát ra khỏi tư duy định vị “công nghiệp văn hoá” giống như đối với lĩnh vực văn hoá nói chung, nhằm bảo tồn bản sắc và phát huy giá trị, với các đề xuất thiên về “ưu tiên hỗ trợ” bằng nguồn lực nhà nước hay huy động tài trợ xã hội (vốn phù hợp với quan điểm “xã hội hoá” tồn tại hai chục năm nay) để hướng tới bảo đảm “ba chuyển dịch lớn” (chuyển từ tư duy phát triển văn hoá sang coi coi văn hoá là trụ cột phát triển, động lực tăng trưởng mới; chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số; chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia) theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.

Chuyển hóa sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hóa trong thời đại Kỷ nguyên mới
Ảnh: TL

Do đó, việc giải quyết khoảng trống về thể chế trong quy định của luật phải bảo đảm kiến tạo vận hành được toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hoá, vừa phản ánh đúng bản chất các quy luật kinh tế đối với các hoạt động đầu tư kinh doanh dựa trên sáng tạo văn hoá, vừa xây dựng được năng lực tự chủ, phát huy toàn diện chủ quyền văn hoá quốc gia. 

Kinh nghiệm của nhiều nước có nền công nghiệp văn hoá phát triển cho thấy, trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và công nghệ số, văn hoá chính là một dạng tài nguyên tổng hợp đặc biệt, có khả năng đóng góp to lớn cho tăng trưởng kinh tế (Việt Nam hiện nay ước tính khoảng 4% GDP và lên đến khoảng trên 5% nếu ước tính cả các dịch vụ có liên quan [2]). Ngày nay, các sản phẩm văn hoá đại chúng được tiếp cận dễ dàng thông qua mọi hình thức: sản xuất và đăng phát các video ca nhạc, biểu diễn nghệ thuật, review phim, sách nói, truyện tranh mạng trên các nền tảng số; tổ chức địa điểm kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải trí thông thường thành không gian sáng tạo mới mẻ với cung cách phục vụ độc đáo đậm chất văn hoá; những concert quy mô lớn, giàu bản sắc nghệ thuật… Nhưng các sản phẩm văn hoá, giải trí do người Việt Nam tạo ra đã trở thành trở thành một phần tất yếu đồng hành với nền kinh tế công nghiệp hoá hay chưa thì chưa nhận được nhiều sự chú ý.

Trong cuộc làm việc của Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết với các cơ quan, ban ngành Trung ương và địa phương ngày 17/9 về phát huy vai trò của văn hoá đóng góp cho phát triển kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 14, bên cạnh việc ghi nhận những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chúng ta mới chỉ thấy được thành quả kinh tế của văn hoá nổi bật ở lĩnh vực du lịch văn hoá và công nghiệp giải trí, nhất là một số địa phương quen thuộc như TPHCM, Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng… (thường gắn với kinh doanh bất động sản mới nổi), trong khi còn rất nhiều ngành kinh tế văn hoá khác cần thúc đẩy nhưng chưa có sáng kiến chính sách hướng đến đúng chỗ.

Khái niệm công nghiệp văn hoá ở Việt Nam đang được số đông tiếp cận theo nghĩa hẹp (đặt trọng tâm vào các ngành giải trí, truyền thông, du lịch, dịch vụ văn hoá), chưa hướng tới giải quyết vấn đề cốt lõi, đó là làm thế nào để thu hút các khu vực kinh tế tiềm năng nhất [3], hiện chiếm khoảng 2/3 quy mô GDP cả nước, thực sự quan tâm, dám bỏ tiền đầu tư để các sản phẩm công nghiệp văn hoá giữ vị trí trung tâm trong chiến lược marketing của họ hoặc coi đây là một lĩnh vực kinh doanh giàu tiềm năng, nhờ đó sáng tạo văn hoá mới thẩm thấu được vào toàn bộ nền kinh tế, thực sự trở thành động năng sản xuất mới.

Khi kinh tế tư nhân nhập cuộc cùng “bệ đỡ” của Nhà nước

Nhu cầu phát triển công nghiệp văn hóa tại các nước công nghiệp phát triển xuất phát từ mối quan hệ cộng sinh giữa khu vực kinh tế tư nhân (giới tư bản công thương cùng với giới tư bản tài chính) và Nhà nước.

Trong đó, khu vực kinh tế tư nhânsử dụng nhân tố “sáng tạo” trong văn hóa như một lực lượng sản xuất mới nhằm thoát khỏi tình trạng “bão hòa” sản xuất công nghiệp. Khi quy mô sản xuất hàng hóa công nghiệp đã đủ lớn và các mặt hàng sản xuất không chỉ cạnh tranh đơn thuần bằng độ bền hay tính năng kỹ thuật, thì văn hóa (thông qua âm nhạc, điện ảnh, thiết kế, thời trang…) lại cho phép tạo ra giá trị thặng dư cao hơn nhiều. Do đó, động lực đầu tư từ giới công thương sẽ chuyển từ bán “vật phẩm” (với giới hạn tính năng sử dụng thuần tuý) sang bán “lối sống” bởi cảm xúc luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên thương hiệu cho các sản phẩm.

Nhà nước cần khu vực kinh tế tư nhân (trung tâm là giới công thương nghiệp) đổ tiền đầu tư nhiều hơn cho văn hoá để tái cơ cấu kinh tế và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Vào những thập niên cuối thế kỷ 20, làn sóng đầu tư  ra nước ngoài trong công nghiệp truyền thống dâng lên trong xu thế toàn cầu hoá. Chính phủ nhiều nước phát triển đã lựa chọn chính sách xác lập động cơ tăng trưởng mới dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo nhằm tạo ra tỷ suất sinh lời vượt trội. Nhờ đó, các ngành kinh tế của họ có thể tận dụng giá trị gia tăng của các thương hiệu, mở rộng thị trường thông qua việc truyền bá lối sống và thị hiếu thẩm mỹ ra thế giới. Khi văn hóa đại chúng của một quốc gia được đón nhận rộng rãi trên thị trường quốc tế thì rào cản “tâm lý tiêu dùng” đối với hàng hóa công nghiệp của quốc gia đó cũng sẽ được triệt tiêu. 

Tất nhiên, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân hay Nhà nước chủ động dẫn dắt cuộc chơi đầu tư cho công nghiệp văn hoá còn tùy thuộc vào bối cảnh, tính đặc thù ở từng quốc gia. Tuy nhiên, các mô hình phát triển công nghiệp văn hoá thành công trên thế giới dưới đây đều cho thấy không thể thiếu sự vào cuộc của khu vực kinh tế tư nhân bên cạnh “bệ đỡ” của Nhà nước.

Hoa Kỳ: Cơ chế kinh tế thị trường tự dẫn dắt, định hình sự phát triển công nghiệp văn hoá toàn diện. Do sản phẩm văn hóa luôn được coi là hàng hóa giải trí thuần túy nên thị trường sẽ tự định đoạt nhằm tối đa hoá lợi nhuận của nhà đầu tư. Sự liên kết hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hoá Hoa Kỳ diễn ra từ rất sớm (đầu thế kỷ 20). Chính phủ không cấp ngân sách hỗ trợ trực tiếp mà chỉ bảo hộ về chính sách, pháp luật, sử dụng ngoại giao thương mại để bảo hộ sở hữu trí tuệ trên thị trường quốc tế.

Nhật Bản: Giới tư bản công nghệ (điện tử, viễn thông [4]) dẫn dắt thị trường công nghiệp văn hoá đi trước, Chính phủ triển khai chiến lược muộn hơn. Đến đầu thập niên 2000, Chính phủ Nhật Bản chính thức triển khai chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá quốc gia “Cool Japan” nhằm hỗ trợ xuất khẩu du lịch và hàng hoá tiêu dùng.

Anh: Nhà nước khởi xướng chính sách đồng hành cùng khu vực kinh tế tư nhân: Đầu thập niên 1990, Chính phủ Anh đã triển khai chiến lược phát triển "Creative Industries" (công nghiệp sáng tạo) nhằm phục hồi kinh tế đối với các trung tâm đô thị công nghiệp cũ. Chính phủ định hướng chiến lược tái định vị công nghiệp và kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hoá chủ yếu là bằng chính sách thuế khuyến khích, thúc đẩy rót vốn vào các lĩnh vực như: thiết kế, âm nhạc, thời trang tạo nên các thương hiệu hàng hoá được định vị xa xỉ và “sành điệu”.

Hàn Quốc: Nhà nước chủ động kiến tạo, buộc các tập đoàn công nghiệp và tài phiệt (Chaebol) nhập cuộc. Từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, Chính phủ dẫn dắt về chiến lược, tạo hành lang pháp lý, bảo hiểm rủi ro đầu tư cho công nghiệp văn hoá và thúc đẩy ngoại giao văn hóa, đồng thời buộc các Chaebol [5] đa ngành phải liên kết với các ngân hàng để phát triển hệ sinh thái công nghiệp hóa, tiến hành quy chuẩn hoá quy trình đào tạo (như về âm nhạc K-Pop, điện ảnh K-Drama) kết hợp lồng ghép lối sống nhằm tạo hiệu ứng lan toả cho văn hoá đại chúng Hàn ra toàn cầu kèm theo các sản phẩm công nghiệp tiêu dùng.

Trung Quốc: Nhà nước chủ động chỉ đạo, điều tiết và kiểm soát toàn bộ thị trường công nghiệp văn hoá, kết hợp phát huy vai trò thực thi của các tập đoàn công nghệ số tư nhân. Với việc coi “sản nghiệp văn hoá” [6] là lĩnh vực an ninh tư tưởng kết hợp yếu công nghệ là hạt nhân của sức sản xuất, Nhà nước đóng vai trò vừa kiến tạo, vừa dẫn dắt, vừa quản lý chặt chẽ tài nguyên văn hoá và thiết lập các lớp hàng rào bảo vệ. Địa phương chủ động quy hoạch phát triển các trung tâm công nghiệp văn hoá phục vụ du lịch, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn… dựa trên khai thác tối đa tiềm năng di sản văn hoá Trung Hoa. Các Big-Tech tư nhân [7] là người thực thi vận hành chuỗi giá trị thương mại (trọng tâm là đầu tư phát triển các nền tảng số xuyên quốc gia, phát triển các game online và đầu tư công viên giải trí chủ đề) với sự hỗ trợ đặc biệt từ các ngân hàng lớn của nhà nước.

Mặc dù các chủ thể tham gia vào hệ sinh thái công nghiệp văn hoá đã được nhận diện trong dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hoá, tuy nhiên do chưa có sự phân biệt rõ vai trò tương ứng với tầm quan trọng, mức độ tham gia của từng chủ thể hoặc nhóm chủ thể trong chuỗi giá trị (sáng tạo - sản xuất - phân phối - tiêu dùng - tái đầu tư) của hệ sinh thái này nên còn có sự lúng túng trong việc đưa ra các cơ chế, chính sách phù hợp đối với tất cả các nhóm chủ thể. Hiện mới có một số đề xuất cơ chế, chính sách ưu tiên rõ rệt đối với ngành công nghiệp xây dựng dân dụng hoặc hỗ trợ một nội dung cụ thể trong lĩnh vực văn hoá chuyên ngành (như điện ảnh). Chúng ta cũng rất cần luật hoá các chính sách thúc đẩy công nghiệp văn hoá gắn với tiêu dùng, xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ trong nước, nhất là trong bối cảnh sức ép cạnh tranh trên toàn cầu và mức thuế nhập khẩu vào một số thị trường lớn hiện không có lợi cho nước ta. 

Chuyển hóa sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hóa trong thời đại Kỷ nguyên mới
Ảnh: TL

Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh hoạt động ngoài lĩnh vực văn hoá và giới sáng tạo văn hoá ở nước ta hiện nay chủ yếu dừng lại ở các hợp đồng tài trợ ngắn hạn, như một kênh quảng cáo riêng lẻ, chưa coi các dự án điện ảnh, nghệ thuật là cơ hội đầu tư chiến lược nhờ nhận nhượng quyền khai thác tài sản sáng tạo văn hoá dài hạn. Trong khi các doanh nghiệp dệt may, da giày, bánh kẹo, thiết bị giáo dục của Việt Nam sẵn sàng chi hàng trăm nghìn USD để mua bản quyền khai thác thương hiệu văn hoá phẩm của các tập đoàn công nghiệp giải trí lớn trên thế giới như Disney, Marvel (Hoa Kỳ), Sanrio (Nhật Bản), Phinkfong, Iconnix (Hàn Quốc)… thì nhiều biểu tượng văn hoá bản sắc Việt của các nghệ sĩ trẻ không có cơ hội vào nhà máy sản xuất trong nước.

Mặc dù các doanh nghiệp nội địa dường như quan tâm hơn đến những ưu đãi về thuế nhưng thực chất chưa có các ưu đãi vượt trội khuyến khích các khu vực sản xuất, kinh doanh khác rót vốn vào các dự án công nghiệp văn hoá. Điều đó cho thấy, khi hệ thống sản xuất chưa nhập cuộc vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá đúng nghĩa thì cần đặt ra câu hỏi liệu cách tiếp cận của dự án Luật đã phản ánh được đúng bản chất kinh tế của quan hệ giữa vai trò định hình, dẫn dắt công nghiệp văn hoá của Nhà nước và các khu vực kinh tế trong nước hay chưa.

Phương pháp luận kinh tế cho công nghiệp văn hoá

Dự thảo luật xác định đưa ra khái niệm các ngành công nghiệp văn hoá với dự kiến trước mắt xác định 10 ngành, nhóm ngành, gồm: điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc: phần mềm nội dung số và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hoá, ẩm thực; thiết kế sáng tạo, thời trang, kiến trúc; truyền hình và phát thanh; xuất bản. Ở đây, việc xếp chung các ngành sự nghiệp văn hoá đang được hưởng cơ chế ngân sách Nhà nước bảo đảm, hỗ trợ trực tiếp phần lớn nguồn lực (từ đầu tư cơ sơ vật chất - kỹ thuật, chi thường xuyên cho việc duy trì bộ máy quản lý, chi lương cho viên chức sự nghiệp và việc giao nhiệm vụ, đặt hàng cung ứng dịch vụ công) với các ngành đã chuyển hẳn sang cơ chế thị trường (như thiết kế sáng tạo, thời trang, kiến trúc, du lịch văn hoá, ẩm thực) lại tiếp tục cho thấy đang có hai vấn đề then chốt chưa được giải quyết về mặt phương pháp luận kinh tế cho phát triển công nghiệp văn hoá trong dự thảo luật.

Đó là chưa thể hạch toán rõ ràng chi phí đầu tư sản phẩm công nghiệp văn hoá, nhất là ở các ngành, lĩnh vực do ngân sách nhà nước bảo đảm [8]. Công nghiệp văn hoá triển khai theo chuỗi giá trị: sáng tạo - sản xuất - phân phối - tiêu dùng - tái đầu tư, nhưng nếu không hạch toán được ở các khâu quan trọng trong chuỗi giá trị này thì việc tiến hành hợp tác công tư là rất khó khăn. Trong khi các sản phẩm, dịch vụ văn hoá do ngân sách nhà nước chi trả sẽ gắn với các mục tiêu phục vụ nhiệm vụ chính trị hoặc các nhiệm vụ phi lợi nhuận, mang tính phúc lợi thì sản phẩm văn hoá do tư nhân đầu tư sẽ chú trọng tới khả năng sinh lời, làm tăng giá trị các mặt hàng tiêu dùng ăn theo trong hệ sinh thái công nghiệp văn hoá. 

Chưa có chế độ điều tra, thống kê đo lường phần giá trị gia tăng của yếu tố sáng tạo văn hoá trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá, đồng bộ hoá với các quy định của pháp luật về kế toán, giá và thuế đối với tài sản vô hình. Xét về bản chất, sáng tạo văn hoá chính là một cấu phần của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và là tài sản vô hình thu hút đầu tư phát triển công nghiệp văn hoá, nên các nước đi trước đều phải tìm kiếm mô hình hạch toán phù hợp đối với phần đóng góp của sáng tạo văn hoá trong TFP. Trên thế giới, hiện có nhiều phương pháp đo lường, đánh giá đang được áp dụng tuỳ theo quan điểm chính sách của Nhà nước lựa chọn trường phái kinh tế học phù hợp với mục tiêu quản trị cần đạt được [9]. Tuy nhiên, TFP phản ánh mức độ tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu nên sáng tạo văn hoá suy cho cùng vẫn bị hoà lẫn vào các yếu tố: tiến bộ công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng lực tổ chức quản lý, kỹ năng lao động (ở những trình độ rất khác biệt trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật). Do đó, thực chất không thể bóc tách tuyệt đối phần giá trị gia tăng của yếu tố sáng tạo văn hoá đối với tất cả các sản phẩm công nghiệp văn hoá. 

Một cách khả dĩ hơn, pháp luật nước ta có thể quy định theo hướng phân biệt 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là sản phẩm sáng tạo nội dung văn hoá là hàng hoá, dịch vụ văn hoá cốt lõi, chứa đựng toàn bộ (100%) giá trị của sáng tạo văn hoá gắn với quyền sở hữu trí tuệ (tác phẩm điện ảnh, video ca nhạc, xuất bản phẩm văn học, nghệ thuật… là các sản phẩm cần định hướng tư tưởng). Nhóm thứ hai là sản phẩm công nghiệp văn hoá ứng dụng là hàng hoá, dịch vụ có chức năng tiêu dùng thông thường, phản ánh một phần giá trị gia tăng của sáng tạo văn hoá thông qua các hình thức nhận diện sản phẩm (thương hiệu, bộ nhận diện…). Trong trường hợp này, cần luật hoá phạm trù “tài sản sáng tạo văn hoá” để không trùng hoàn toàn với quyền sở hữu trí tuệ nhưng vẫn đủ để bao quát các quyền khai thác phái sinh từ quyền sở hữu trí tuệ, với tư cách là nguồn vốn cốt lõi tạo nên giá trị gia tăng cho hàng hoá, dịch vụ, truyền tải giá trị thẩm mỹ hoặc biểu tượng tinh thần, biểu đạt bản sắc văn hoá.

Đối với các sản phẩm công nghiệp văn hoá ứng dụng thì việc bóc tách được phần giá trị gia tăng của tài sản sáng tạo văn hoá với công năng tiêu dùng thuần tuý của sản phẩm (ví dụ, việc xác định giá trị đóng góp của thiết kế kiểu dáng trong các sản phẩm túi xách, giày da…) là cần thiết giúp cho các nhà đầu tư có thể đánh giá được tiềm năng kinh doanh của sản phẩm (liên quan đến quy mô mở rộng sản xuất công nghiệp, phân phối trên diện rộng và sức sống của sản phẩm trên thị trường). Từ đó cũng đặt ra vấn đề phải điều chỉnh, bổ sung một cách đồng bộ các quy định của pháp luật về thống kê, kế toán, giá và thuế liên quan đến dạng tài sản vô hình là “tài sản sáng tạo văn hoá” trong sản phẩm của các ngành hàng tiêu dùng khi tham gia chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá.

Nhận diện những “tử huyệt” thể chế kìm hãm chuyển hoá sáng tạo văn hoá

Cơ chế quản lý, khai thác, sử dụng cục bộ, phân mảnh khiến tài nguyên tri thức văn hoá bị đứt gẫy, chưa tích hợp được để trở thành vốn trí tuệ.

Trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá, tài nguyên tri thức hay tài nguyên trí tuệ (Knowledge Resources) có khả năng tái tạo không ngừng một cách phi thường và có điều kiện trở thành vốn tri thức (Knowledge Capital) nhờ thứ tài sản vô hình sở hữu trí tuệ  (IP - Intellectual Property), bởi khi càng giải mã, tái diễn giải và sáng tạo phái sinh, giá trị tích lũy của tài nguyên này lại càng nở rộng. Trong điều kiện nước ta hiện nay, bên cạnh những nguồn tư liệu và hiện vật văn hoá, lịch sử phong phú, quý giá do cá nhân sưu tầm chưa công bố, các đơn vị của Nhà nước hiện nắm giữ một kho tàng tài nguyên trí thức văn hoá, nghệ thuật theo dòng lịch sử vô cùng lớn, nhưng bị chia cắt theo tư duy quản lý theo ngành như: thư viện (tài liệu xuất bản), lưu trữ (hồ sơ tài liệu công, di sản tư liệu), bảo tàng (hiện vật văn hoá), cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học (kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, tư liệu học thuật), các đơn vị phát thanh, truyền hình (tư liệu nghe nhìn)… và cả theo cấp hành chính, dẫn đến hình thói quen cố hữu muốn độc chiếm thông tin, tư liệu, hiện vật để dùng riêng ở từng tổ chức, cá nhân. 

Trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, tài nguyên tri thức tồn tại dưới dạng dữ liệu số do các cơ quan, tổ chức, cá nhân thu thập, tạo lập, tích luỹ từ ngân sách nhà nước ở từng bộ, ngành, địa phương nhưng chưa có chuẩn mực thống nhất nên các dữ liệu phản ánh nguồn tài nguyên tri thức vẫn bị đứt gẫy, phân mảnh, tách biệt bởi các quy định pháp luật chuyên ngành, quy chế quản lý riêng rẽ của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Đặc biệt, xung đột về quan điểm áp dụng thể hiện rõ nhất giữa pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công với pháp luật về sở hữu trí tuệ. Khi nhà nước đầu tư, cấp vốn từ ngân sách đối với mọi công trình, nhiệm vụ sự nghiệp thì phải chăng không đơn vị sự nghiệp nào được trao tư cách chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm, thành quả có liên quan đến công trình, nhiệm vụ đó.
Từ đó, dẫn đến tài nguyên tri thức nằm nguyên và không thể tích hợp để khai thác hiệu quả cho phát triển công nghiệp văn hoá, mặc dù nhu cầu tiếp cận của công chúng là rất cao. Tuy nhiệm vụ quản lý tài sản công đạt được nhưng lại đặt ra một vấn đề lớn khác, đó là ai sẽ chịu trách nhiệm về tình trạng lãng phí nguồn vốn tri thức này. 

Chuyển hóa sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hóa trong thời đại Kỷ nguyên mới
Người dân trong trang phục truyền thống tham gia hoạt động giới thiệu, trải nghiệm văn hóa tại Gia Lai. Ảnh: Phúc Anh

Nguy cơ lớn hơn trong lĩnh vực văn hoá, đó là một khi kho tri thức văn hoá bản địa trong nước bị phân mảnh, khó tiếp cận thì những người sáng tạo nội dung, nhất là giới trẻ, đang phải tiếp nhận các sản phẩm văn hóa, giải trí trôi nổi, khó kiểm chứng trên không gian mạng, đặc biệt là việc sử dụng công cụ AI toàn cầu được huấn luyện chủ yếu bằng dữ liệu nước ngoài, dẫn đến nguy cơ nhận thức lệch lạc, không chính xác về giá trị, bản sắc văn hóa Việt Nam.

Thiếu hành lang pháp lý cho phép huy động vốn đầu tư xã hội 

Do tính cạnh tranh khốc liệt trên thị trường toàn cầu nên công nghiệp văn hoá đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn, trong khi các nguồn lực của Nhà nước lại không đủ đáp ứng. Tuy nhiên, pháp luật chuyên ngành trong các lĩnh vực văn hoá lại chủ yếu quy định nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, quỹ do cơ quan nhà nước thành lập [10] (về bản chất phụ thuộc vào ngân sách nhà nước). Các nước thành công thường xuất phát từ kênh huy động vốn đầu tư xã hội rộng rãi là đầu tư mạo hiểm. Ở đây, chúng ta đang gặp phải một số vấn đề.

Thứ nhất, hành lang pháp lý cho đầu tư mạo hiểm cho công nghiệp văn hoá chưa định hình hoàn chỉnh: loại hình quỹ đầu tư mạo hiểm hiện được cho phép hình thành để thúc đẩy đầu tư vào lĩnh vực phát triển công nghệ và văn hoá, nghệ thuật [11]. Tuy nhiên, ngoài các quy định hiện hành về địa vị pháp lý và nguyên tắc đầu tư thì pháp luật chưa định hình được hoàn chỉnh hành loại hình đầu tư này. Đầu tư mạo hiểm cho văn hoá, nghệ thuật luôn có những điểm rất khác biệt so với đầu tư thông thường do sản phẩm văn hoá là “hàng hóa có tính trải nghiệm” - người tiêu dùng chỉ biết được giá trị thực của nó sau khi đã trải nghiệm. Vì vậy, nhà đầu tư không thể dùng các chỉ số thị trường thông thường để định giá một “tác phẩm” chưa ra đời.
Trên thực tế, các công cụ cấp vốn truyền thống thường thất bại khi áp dụng vào lĩnh vực văn hóa (khó cho vay do thiếu tài sản hữu hình thế chấp; e ngại tỷ lệ thất bại cao và chu kỳ thu hồi vốn kéo dài; khó huy động vốn qua thị trường chứng khoán do quy mô doanh nghiệp trong lĩnh vực này thường nhỏ, thậm chí khá đông là người sáng tạo độc lập). Vì vậy, quỹ đầu tư mạo hiểm hợp tác công tư là giải pháp được lựa chọn. 

Dự thảo Luật chưa xác lập quy trình chung cho đầu tư phát triển sản phẩm công nghiệp văn hoá tương ứng với việc tham gia cấp vốn đầu đầu tư mạo hiểm vào các khâu nên sẽ rất khó khăn để chào mời, khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân cùng tham gia. Thời gian triển khai đầu tư mạo hiểm tuỳ thuộc vào loại hình sản phẩm công nghiệp văn hoá và khả năng sống sót trên thị trường (từ một vài năm như thường thấy ở một số show truyền hình thực tế, nghệ thuật biểu diễn, phim điện ảnh) đến 10 năm hoặc hơn (đối với các dự án thuộc ngành game). Trong quy trình trên, vốn được cấp từ quỹ đầu tư mạo hiểm chủ yếu là “vốn mồi” (seed capital) của Nhà nước dành cho việc tìm kiếm cơ hội đầu tư vào khâu sáng tạo nội dung[12] và sản xuất thử nghiệm với mức rủi ro cao hơn, từ đó tạo điều kiện để dòng vốn tư nhân tham gia vào tầng thứ hai với mức rủi ro thấp hơn. 

Thứ hai, chưa có quy chế pháp lý đầy đủ về “tài sản sáng tạo văn hoá”, tạo thuận lợi cho việc thế chấp, bảo lãnh vay để đầu tư: những năm gần đây, ngày càng có nhiều đơn vị trong nước đã dám đầu tư lớn, nhất là các hãng phim tư nhân. Nhưng nguồn vốn rót cho các dự án này đều do nhà sản xuất tư nhân tự xoay xở. Với các quy định kiểm soát ngăn ngừa nợ xấu, các ngân hàng, công ty tài chính không thể cấp tín dụng cho dự án công nghiệp văn hoá, nếu không có tài sản hữu hình thế chấp.
Hệ quả là, các đơn vị hoạt động điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn … thường xuyên trong tình trạng thiếu vốn lưu động, khó tích luỹ để tái đầu tư nâng cấp sản phẩm công nghiệp văn hoá trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.

Những người đứng trên quan điểm nghệ thuật thuần tuý thường cho rằng sáng tạo nghệ thuật mới là yếu tố quan trọng nhất, thậm chí là “vô giá”. Song từ quan điểm kinh tế thị trường, việc không có quy chế pháp lý chuẩn đối với “tài sản sáng tạo văn hoá” khiến cho mọi kịch bản văn học hay, mọi bộ thiết kế tạo hình đẹp, chưa thể xem là tài sản đích thực. Không ai nhận thế chấp những sản phẩm sáng tạo vì hoàn toàn không có căn cứ để thu hồi nợ nếu dự án thất bại.
Mặt khác, việc không có cơ chế pháp lý rõ ràng cũng cho thấy luôn có rủi ro tiềm ẩn cho các bên liên quan, điển hình trong một số lĩnh vực: nghệ thuật biểu diễn (nhà sản xuất thu tiền vé trước nhưng không bị bắt buộc ký quỹ, bảo lãnh dẫn tới hành vi chiếm đoạt tiền vé), phim điện ảnh phát hành trên các nền tảng OTT (thiếu kiểm duyệt chặt chẽ xảy ra tranh chấp trong quá trình nhượng quyền), trò chơi điện tử trực tuyến (biến tướng cờ bạc), xuất bản (xâm phạm bản quyền diện rộng trên không gian mạng), quảng cáo (nội dung sai sự thật), mỹ thuật (tác phẩm phái sinh trái phép, rửa tiền qua đầu tư nghệ thuật)... Đây cũng chính là những hành vi đe doạ môi trường an ninh phi truyền thống của đất nước.

Thứ ba, cơ chế hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực văn hoá còn hạn chế về phạm vi địa bàn nên bó buộc nhiều địa phương có tiềm năng: Mặc dù Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư đã được sửa đổi năm 2024 theo hướng mở rộng cơ chế PPP sang tất cả các lĩnh vực đầu tư công, trong đó có văn hoá, thể thao nhưng trên thực tế việc áp dụng là rất khó khăn, có thể nói là gần như không thể đối với phần lớn địa phương.

Ví dụ từ Bảo tàng Đà Nẵng gần đây cho thấy ngay cả khi Nhà nước đã dành nguồn lực đầu tư cho một công trình mới, hiện đại [13] (đi vào khai thác từ năm 2025) thì tiềm năng phát triển vẫn là rất lớn nếu có được cơ chế hợp tác công tư thích hợp. Lãnh đạo đơn vị sự nghiệp này trăn trở và ao ước du khách cả nước sẽ có cơ hội thưởng thức một bức một bức tranh tròn panorama về trận chiến kiên cường tại Thành Điện Hải (1858-1860) của quân dân Đà Nẵng, đánh bại ý đồ xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha, giống như công trình mỹ thuật hoành tráng về Chiến dịch Điện Biên Phủ (do Nhà nước đầu tư).

Trên thực tế, ngoài thành phố Hà Nội, TPHCM được áp dụng cơ chế đặc thù (theo Luật Thủ đô năm 2024 và Nghị quyết 98/2023/QH15 của Quốc hội), doanh nghiệp tư nhân và đơn vị sự nghiệp ở các địa phương khác đều chưa thể ký hợp đồng đối tác công tư trong đầu tư vào các thiết chế văn hoá công lập (bảo tàng, nhà hát, thư viện, nhà văn hoá...) do vướng các quy định chặt chẽ trong các quy định pháp luật có liên quan như: về quản lý, sử dụng tài sản công, về di sản văn hoá, về giá dịch vụ, về điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/500, về quy chuẩn xây dựng, về nghĩa vụ đối với viên chức, về tỷ lệ ăn chia trên sản phẩm hợp tác, hay cách thức giải quyết tranh chấp hợp đồng...

Bất cập đối với hạ tầng phát triển công nghiệp văn hoá

Không chỉ có công trình, thiết chế văn hoá công lập mà cả mặt bằng đất đai, nhất là ở các đô thị và vùng ven, cũng rơi vào tình trạng khó khăn để trở thành nguồn lực hạ tầng cho phát triển công nghiệp văn hoá. Đã có rất nhiều bài học cho thấy thực tiễn đi trước thể chế khá xa, nhưng các nguồn lực hạ tầng này vẫn không được giải phóng khỏi sự xung đột giữa “rừng” quy định.

Chúng ta từng chứng kiến không ít cơ sở sản xuất công nghiệp, vận tải sau khi di dời nhà xưởng, thiết bị cũ kỹ đã biến vị trí thuận lợi đang nắm giữ thành các mô hình tổ hợp sáng tạo văn hoá (Creative Hub) nhằm khai giá trị kinh tế của  ký ức đô thị. Trong đó, có những ý tưởng tuy được triển khai tự phát nhưng đã thu hút đông đảo giới văn hoá, nghệ thuật tại Hà Nội (như khu Zone 9 vào 2013), TPHCM (khu phức hợp Ga 0/Nhà Ga 3A Tôn Đức Thắng giai đoạn 2014-2017). Các mô hình không gian sáng tạo này đều rơi vào tình cảnh mắc kẹt về thể chế liên quan đến: quy hoạch đất đai, quy chuẩn xây dựng công trình, quản lý sử dụng tài sản công, phòng cháy chữa cháy… nên sau một thời gian vừa khai thác, vừa loay hoạch tìm cách tháo gỡ, rốt cuộc vẫn bị đóng cửa. 

Việc buộc cơ sở sản xuất cổ phần hoá phải di dời khỏi các khu “đất vàng” nội đô do không còn phù hợp với mục tiêu phát triển của địa phương là hoàn toàn đúng đắn. Trong trường hợp này, nếu tiếp tục để đơn vị giữ quỹ đất được giao trước đây cho thuê mở xưởng thiết kế, bố trí gallery trưng bày và kinh doanh dịch vụ mà không thanh lý tài sản công, không thu hồi để đấu giá lại quyền sử dụng đất thì mức độ sai phạm đồng thời rất nghiêm trọng. Nhưng cả đơn vị sử dụng đất và người đi thuê mặt bằng cho phát triển không gian sáng tạo đều coi tình trạng này là “bẫy cơ chế” đối với tài sản đã sử dụng qua nhiều năm hoặc đã chót bỏ ra một số tiền không nhỏ cùng tâm huyết, đam mê sáng tạo với niềm tin mọi chuyện đều có thể giải quyết hợp lý. Cuối cùng thì mọi khu “đất vàng” đều có lời giải khi chính quyền quyết tâm phát triển một dự án bất động sản thương mại. Những câu chuyện thực sự đáng bàn là sự lãng phí kéo dài gây thiệt hại cho cả ngân sách nhà nước lẫn tài sản của các bên.

Kể cả không gian sử dụng cho mục đích công cộng lẫn tài sản tư nhân đều gặp phải vấn đề xung đột giữa thể chế, lợi ích và nhu cầu phát triển văn hoá.

Vô số mảnh đất sử dụng vào mục đích công cộng (công viên, bến xe, nhà ga xe lửa cũ, hành lang giao thông, hành lang đê điều, vỉa hè lòng đường phố cổ…) là những địa điểm ưa thích để hình thành các không gian sáng tạo văn hoá, dịch vụ giải trí gắn với kinh tế đêm, kinh tế hộ gia đình. Tại khu vực nội đô, không chỉ các không gian sử dụng cho mục đích công cộng mà cả khu tập thể, condotel, nhà xưởng, rừng sản xuất, mặt nước ao, hồ, đầm, ven sông, ven biển, đảo… cũng bị mắc kẹt do những hạn chế nghiêm ngặt về mục đích sử dụng đất. 

Với việc pháp luật đất đai được hoàn thiện đồng bộ với các pháp luật chuyên ngành khác, chính quyền địa phương các cấp đã từng bước chỉnh đốn và chấm dứt, cưỡng chế giải toả các không gian văn hoá, dịch vụ tự phát này bằng các hoạt động thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật, ngăn chặn nguồn lực tài sản công bị trục lợi, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và phòng ngừa những rủi ro liên quan đến tính mạng, sức khoẻ của người dân. Nhưng cũng chính cách tiếp cận quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân theo mục đích sử dụng đơn lẻ lại không dung dưỡng các ý tưởng sáng tạo tự nhiên và khuyến khích đời sống văn hoá vật chất, tinh thần của xã hội nảy nở phong phú, hấp dẫn.

Cũng vì vậy, nhiều địa phương có tiềm năng, thế mạnh muốn phát triển kinh tế đêm, kinh tế di sản (kể cả các đô thị trực thuộc Trung ương như Quảng Ninh, Bắc Ninh, Khánh Hoà, Cần Thơ) nhưng cũng chưa có được lời giải thích hợp. Hiện nay, chỉ có duy nhất Thủ đô Hà Nội được thực sự được trao đủ quyền hạn để tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế trong lĩnh vực này nhờ có Luật Thủ đô. Với các địa phương khác, để phát triển hạ tầng công nghiệp văn hoá, chắc chắn sẽ phải có những đề xuất thí điểm.
Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hoá có đề xuất áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) nhưng đây là mô hình phù hợp đối với các dự án đổi mới sáng tạo công nghệ trong trường hợp chưa có luật điều chỉnh hơn là giải quyết tình trạng vướng “bẫy cơ chế”, nên khó áp dụng để khuyến khích phát triển hạ tầng công nghiệp văn hoá trên diện rộng. 

Thiếu hụt trầm trọng nhân lực chuyên nghiệp cho công nghiệp văn hoá 

Câu chuyện của công ty Gami Hội An, đơn vị đầu tiên trong nước phát triển thành công chương trình nghệ thuật thực cảnh mang tên “Ký ức Hội An” từ năm 2018 đến nay (với số lượng nhân lực chuyên nghiệp thường xuyên lên đến vài trăm người tại công viên văn hoá chủ đề “Ấn tượng Hội An”) cho thấy công nghiệp văn hoá đòi hỏi sự huy động tổng hợp nguồn nhân lực đa dạng tham gia. Không nhất thiết và cũng không thể huy động được đủ những người được đào tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật tham gia vào các sản phẩm công nghiệp văn hoá quy mô lớn. Thay vào đó, có thể khai thác nguồn nhân lực là sinh viên tốt nghiệp từ các ngành có liên quan như thể thao, sư phạm, du lịch..., miễn là có khả năng cảm thụ âm nhạc và sức khoẻ tốt.

Chuyển hóa sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hóa trong thời đại Kỷ nguyên mới

Tham gia vào hệ sinh thái công nghiệp văn hoá gồm có: người trực tiếp sáng tạo, biểu diễn, thiết kế, kỹ thuật viên, người dẫn chương trình trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, truyền thông đến các nhà sản xuất, nhà quản lý, chuyên gia tư vấn trên mọi lĩnh vực liên quan (truyền thông, pháp lý, kinh tế tài chính, văn hoá, lịch sử, khoa học, công nghệ…) và kể cả lực lượng đông đảo những người hoạt động không chuyên (diễn viên quần chúng, người sáng tạo nội dung, bình luận viên…). Trong hệ sinh thái này, tài năng sẽ xuất hiện ở mọi khâu, mọi vai trò được hoán đổi, thích nghi. Nghệ sĩ biểu diễn hay người sáng tạo nội dung hoàn toàn có thể trở thành nhà sản xuất, nhà phân phối sản phẩm, chuyên gia hoặc bất kỳ vị trí nghề nghiệp thích hợp trong tương lai, hoàn toàn do quá trình phát triển năng lực tự thân và cạnh tranh nghề nghiệp của họ trong hệ sinh thái công nghiệp văn hoá. Chính sự đào luyện “khắc nghiệt” đối với họ trong hệ sinh thái này sẽ cho “ra lò” ngày càng nhiều nhân tài công nghiệp văn hoá. Do đó, khi môi trường công nghiệp văn hoá chưa thực sự phát triển thì chưa thể đòi hỏi sẵn có nhân tài. 

Việc đề xuất những cơ chế, chính sách thu hút, khuyến khích nhân tài công nghiệp văn hoá nhìn chung vẫn đang đi theo lối tiếp cận bảo tồn và phát triển văn hoá từ mấy chục năm qua. Nhưng nếu coi “nhân tài” phải có trước sự phát triển thì thực tiễn lại dẫn đến biểu hiện chạy theo bằng cấp, danh hiệu hình thức thay vì trân trọng giá trị lao động đích thực, sự tận tâm cống hiến trong môi trường cạnh tranh, là điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển nhân tài. Hiện nay, tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhân lực chuyên nghiệp ở nước ta là hệ quả của các tồn tại đặc trưng cho trình độ phát triển xã hội: tính chất lao động thời vụ, sáng tạo giản đơn, thiếu tính hiệp đồng, văn hoá e ngại phản biện chuyên môn, ít dám đương đầu với dư luận… Môi trường làm việc trong hầu hết ngành công nghiệp văn hoá chưa được nâng lên tiêu chuẩn công nghiệp hoá. Do đó, cần có các chính sách phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp hoá, trong đó yếu tố chuyên nghiệp chỉ xuất hiện thông qua sự vận hành chuỗi giá trị mang tính chất tiêu chuẩn hoá cao của toàn bộ hệ sinh thái (đề cao yêu cầu “sáng tạo” đi liền với chuẩn mực đạo đức, kỷ luật nghề nghiệp và cơ chế bảo đảm thực thi nghĩa vụ giao kết trên thị trường lao động). 

Những “trụ cột” thể chế, chính sách mới cho phát triển công nghiệp văn hóa

Để giải phóng triệt để sức sáng tạo văn hoá, đóng góp vào việc đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần quán triệt tinh thần “ba chuyển dịch lớn” để thiết lập những trụ cột thể chế, chính sách mới, mang tính kiến tạo phù hợp.

Đó là đẩy mạnh liên thông, tích hợp dữ liệu trong quá trình chuyển đổi số, thực hiện cơ chế khoán thu kết hợp chia sẻ doanh thu PPP, gắn liền với bảo đảm tính khách quan, khoa học, tăng cường kiểm soát rủi ro về mặt tư tưởng, đạo đức đối với các sản phẩm công nghiệp văn hoá trên không gian mạng

Nhằm tháo gỡ những bất cập, hạn chế của tình trạng đứt gẫy, phân mảnh, cục bộ trong khai thác, sử dụng tài nguyên tri thức văn hoá, lịch sử, Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra những chủ trương giải pháp đúng đắn nhằm đẩy mạnh liên thông, tích hợp dữ liệu trong quá trình chuyển đổi số. Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hoá hiện đang thể chế hoá các chủ trương này bằng việc quy định về hạ tầng văn hoá số [14], trong đó, xác định hạ tầng dữ liệu văn hoá là cấu phần cốt lõi của hạ tầng văn hoá, bao gồm: kho dữ liệu văn hoá số quốc gia, cơ sở dữ liệu về văn hoá, nền tảng số… Đồng thời, dự thảo cũng quy định nguyên tắc xây dựng, phát triển và vận hành hạ tầng văn hoá số phải bảo đảm kết nối liên thông, chia sẻ và khả năng tái sử dụng dữ liệu. 

Quy định như trên bảo đảm thống nhất chuẩn dữ liệu văn hoá, kết nối, tích hợp dữ liệu giữa các cơ sở công lập đang quản lý các kho tàng tài nguyên tri thức văn hoá. Từ đó, dẫn đến yêu cầu các dữ liệu IP gốc sẽ buộc phải dãn nhãn theo chuẩn quốc tế và Việt Nam để thuận lợi cho việc truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, quy định này không có nghĩa mọi dữ liệu liên quan đến tài nguyên tri thức do Nhà nước đầu tư (tài liệu dịch thuật tư liệu Hán nôm, tư liệu chữ viết dân tộc thiểu số, dữ liệu số hóa 3D các bảo vật quốc gia, di tích lịch sử, mỹ thuật truyền thống... ) sẽ được khai thác mở mặc định mà phải được phân loại, cung cấp có điều kiện theo mục đích sử dụng (giáo dục, các mục tiêu phi lợi nhuận khác hoặc thu phí bản quyền thương mại) nhằm khai thác có hiệu quả.

Mặc dù Chính phủ đã có chính sách chung về khuyến khích đầu tư, phát triển hạ tầng văn hoá số theo phương thức PPP (Nghị định số 277/2026/NĐ-CP) nhưng còn phụ thuộc vào việc sửa đổi pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, theo đó còn khoảng trống pháp lý rõ rệt để định danh dữ liệu số phát sinh từ việc số hoá tài sản công cũng là tài sản công cũng như trong việc định giá đối với dữ liệu văn hoá số (dẫn đến tâm lý lo ngại thất thoát tài sản công). Bên cạnh đó, đối với nhu cầu đẩy mạnh số hoá sâu hoặc phục dựng chi tiết liên quan đến công trình, hiện vật bảo tồn, bảo tàng (trang phục, vật dụng, kiến trúc, nghi lễ văn hoá lịch sử phù hợp với quy cách chuẩn), trong điều kiện ngân sách nhà nước chưa đáp ứng được ở một số cấp, ngành, địa phương khó khăn (hiện nay một số daonh nghiệp “kỳ lân” trong ngành giải trí như DatViet VAC cũng thấy được tiềm năng này và đề xuất thí điểm cơ chế hợp tác công tư thực hiện số hoá. Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế định giá đối với dữ liệu văn hoá số chứa đựng rất nhiều rủi ro nên có thể áp dụng cơ chế khoán thu kết hợp chia sẻ doanh thu (Revenue Sharing/Concession Fee), cho phép đấu thầu công khai quyền khai thác, thu tiền trên dòng tiền thực tế phát sinh trong tương lai (cố định hằng năm) từ hoạt động bán vé, đồ lưu niệm, bản quyền nội dung phái sinh... Theo cách này, Nhà nước không cần góp tài sản vào doanh nghiệp để chia cổ tức, mà giao quyền vận hành, khai thác kho dữ liệu và không gian sáng tạo cho doanh nghiệp.

Nếu việc hoàn thiện pháp luật tháo gỡ được đồng bộ những rào cản trên, các nhà sáng tạo nội dung, nhà sản xuất sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với nguồn dữ liệu gốc này với những điều kiện khai thác nhất định, phù hợp với nhu cầu chất liệu sáng tạo ra sản phẩm trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá. 

Việc tích hợp kho dữ liệu văn hoá số đa dạng, phong phú cùng với việc áp dụng những tri thức khoa học liên ngành, đặc biệt với sự tham gia ngày càng sâu của AI, chắc chắn sẽ tạo ra vô số tài sản cốt truyện (IP story) mới để phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hoá. Nhiều tài sản trí tuệ trong số đó có thể chính là lời giải khoa học và chân thực, tạo nên ký ức dân tộc khiến chúng ta càng thêm tự hào, hơn cả những điều đã được ghi chép trong chính sử hay huyền sử. Bài thơ “Thần” mà không người Việt Nam nào không biết, tuy vẫn là một sản phẩm chiến tranh tâm lý nhưng quá trình tạo ra IP story biết đâu lại là minh chứng về mưu lược ông cha ta cho rải truyền đơn trong doanh trại quân giặc trước phòng tuyến Như Nguyệt năm 1077. 

Tuy nhiên, pháp luật cũng cần dự liệu cả mặt trái của công nghiệp văn hoá trong thời gian tới. Không gian mạng phát triển dẫn đến bùng nổ sản phẩm số phục vụ giải trí và trao đổi tri thức. Khi mọi người đều có thể lên không gian mạng bàn luận, chúng ta chợt nhận ra nhiều nghi vấn lịch sử vốn là đang là chủ đề sôi nổi, lại bị bóc trần một cách ngỡ ngàng.

Chẳng hạn, việc áp dụng kiến thức liên ngành của khoa học trái đất và môi trường liên quan đến các chu kỳ thay đổi mực nước biển trên quy mô toàn cầu cho thấy: giả định mực nước biển ở vùng Châu thổ sông Hồng thời kỳ bẩy, tám trăm năm trước dâng cao hơn hiện nay vài mét và trong điều kiện chưa có hệ thống đê điều, sẽ dẫn đến mọi ý kiến tranh chấp về nơi phát tích của một triều đại, nơi hình thành một đô thị hay thương cảng trong hệ thống thương mại cổ xưa hoặc thậm chí một trận đánh nổi tiếng… trở nên vô nghĩa, bởi các công nghệ mô phỏng hiện đại có thể cho thấy kết quả sai lệch hoàn toàn những quan điểm phổ biến.

Tương tự, một danh nhân vốn được chính sử trước đây ca ngợi và đi vào ký ức cộng đồng bản địa như một vị anh hùng cũng có nguy cơ trở thành nhân vật phản diện, không phù hợp với chuẩn mực giá trị con người Việt Nam nếu xuất hiện nguồn tư liệu đáng tin cậy chỉ ra quá khứ đen tối. Điều này hẳn sẽ làm đau đầu những ai đã viết ra hồ sơ di sản hay sách giáo khoa hoặc làm tổn thương cả những cộng đồng, dòng họ danh tiếng. 

Mâu thuẫn trên phương diện tư tưởng, đạo đức giữa kiến giải khoa học và đạo lý con người do đó cần được giải quyết bằng các quy định của pháp luật nhằm phân loại các mức độ rủi ro liên quan đến IP story: từ hư cấu hợp lý, diễn giải mới (có thể gây tranh luận), có nguy cơ sai lệch (cần điều chỉnh khi sản xuất) cho đến bị nghiêm cấm (xuyên tạc lịch sử, xâm phạm danh dự, nhân phẩm…). Đây cũng là cơ chế pháp lý nhằm xác định các trường hợp hồ sơ tài sản sáng tạo văn hoá cần thẩm định nội dung hoặc tham vấn ý kiến chuyên gia trong quá trình sản xuất và trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, góp phần phòng ngừa, ngặn chặn tác hại đến lĩnh vực văn hoá, tư tưởng từ sự tranh luận làm hỗn loạn trên không gian mạng như trong thời gian gần đây.

Thiết lập khung pháp lý đồng bộ cho đầu tư, cho vay, bảo lãnh, thế chấp đối với tài sản sáng tạo văn hoá

Trong điều kiện pháp luật dân sự nước ta hiện chỉ quy định về quyền sở hữu trí tuệ (thuộc nhóm quyền tài sản), việc luật hoá quy định về tài sản sáng tạo văn hoá đòi hỏi quá trình xác lập loại tài sản vô hình này phải là sự kết tinh trí tuệ của lao động tập thể có được nhờ sự phối hợp chặt chẽ, nghiêm túc giữa nhiều bên, từ tác giả nội dung sáng tạo gốc đến đại diện nhà đầu tư/sản xuất/khai thác dự kiến, các chuyên gia về lập dự án, tài chính (tư vấn về thị trường, kế hoạch kinh doanh, thẩm định giá, quản trị rủi ro…), chuyên gia pháp lý (hỗ trợ soạn thảo các tài liệu pháp lý), chuyên gia tư vấn hoặc các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác có liên quan đến sản phẩm gắn với các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật liên ngành cần tham vấn chuyên môn. Việc xem xét quyết định đầu tư của quỹ đầu tư mạo hiểm hay việc tham gia góp vốn đầu tư hoặc bảo lãnh vay vốn đều phải dựa trên bộ hồ sơ chứng minh giá trị tiềm năng của tài sản sáng tạo văn hoá cho thấy, cần có sự vào cuộc từ sớm của toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hoá. 

Cần nghiên cứu, luật hoá cơ chế định giá đối với các nội dung sáng tạo văn hoá thành tài sản tài chính hoá liên quan đến các IP gốc (tác phẩm, kiểu dáng, bản vẽ thiết kế gốc) và quyền khai thác (nhượng quyền) đối với IP phát triển phái sinh (thiết kế tạo hình nhân vật, bộ nhận diện sản phẩm… có khả năng mở rộng kinh doanh sang ứng dụng ở các sản phẩm có chức năng tiêu dùng), đồng bộ hoá với quy định về tài sản sáng tạo số (mô hình không gian 3D, thư viện ảo, bảo tàng số, sách số… ). Trên cơ sở đó, Chính phủ cần quy định chi tiết về cơ chế định giá tài sản sáng tạo văn hoá cho phép đánh giá minh bạch, khách quan về giá trị, bản sắc văn hoá cũng như tiềm năng thu nhập dòng tiền tương lai trong chuỗi giá trị, tạo cơ sở pháp lý để xem xét cấp hạn mức tín dụng, bảo lãnh đối với các dự án công nghiệp văn hoá. 

Một sáng kiến chính sách quan trọng, hợp lý trong dự án luật là sàn giao dịch công nghiệp văn hoá. Chính xác, nó nên được xác định là “sàn giao dịch tài sản sáng tạo văn hoá” với tính chất là thị trường thứ cấp tập trung để chào bán các dự án công nghiệp văn hoá công khai nhằm tạo kênh thanh khoản, đồng thời là kênh thoát vốn cho các giao dịch đầu tư mạo hiểm đã vượt qua giai đoạn sáng tạo, thử nghiệm để bước vào giai đoạn sản xuất thương mại; cho phép bảo lãnh tín dụng, thế chấp đối với các dự án hoặc start-up công nghiệp văn hoá phù hợp với từng loại sản phẩm, từng ngành công nghiệp văn hoá tại các tổ chức tài chính nhà nước hoặc có vốn nhà nước.

Mặt khác, cần đồng thời đặt ra giới hạn “cấp vốn mồi” (từ nguồn vốn Nhà nước góp) trong quỹ đầu tư mạo hiểm hợp tác công tư (đó là các quỹ văn học, nghệ thuật của Trung ương và địa phương) cho sản xuất sản phẩm công nghiệp văn hoá. Quan trọng hơn cả, để giải phóng nỗi sợ trách nhiệm trong quản lý vốn đầu tư nhà nước, Luật cần quy định rõ nguyên tắc chấp nhận rủi ro và miễn trừ trách nhiệm ngay tình trong các trường hợp cụ thể về đầu tư, cho vay, bảo lãnh vay đối với dự án công nghiệp văn hoá ở các ngành sáng tạo nội dung văn hoá (nên hạn chế áp dụng nguyên tắc này đối với dự án công nghiệp văn hoá ứng dụng để tránh lạm dụng, trục lợi).

“Giải phóng” nguồn lực hạ tầng phục vụ công nghiệp văn hoá khỏi “bẫy cơ chế” gắn với các mục đích khai thác, sử dụng tài sản công đơn ngành, đơn lĩnh vực có nguy cơ xung đột về lợi ích: sứ mệnh “kép” để chống lãng phí và tái cấu trúc mô hình tăng trưởng đô thị dựa trên giá trị sáng tạo

Mâu thuẫn giữa các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý nhà nước đơn ngành, đơn lĩnh vực đối với tài sản công là đất đai và công trình thuộc sở hữu, có vốn nhà nước, có nguy cơ xung đột hoặc đang xung đột trực tiếp về lợi ích giữa các bên liên quan chính là cái “bẫy cơ chế” lớn nhất khiến cho chưa thể giải phóng nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hoá, từ đó dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực to lớn, dài hạn mà hiện không ai phải chịu trách nhiệm.

Việc giải phóng nguồn lực hạ tầng khỏi “bẫy cơ chế” sẽ giúp cho chính quyền địa phương thoát khỏi tình trạng lãng phí này, đồng thời giải quyết được nhiều nhiệm vụ chiến lược phù hợp với tư duy quản trị địa phương hiện đại như: phá vỡ tư duy quản trị phân mảnh và tái sử dụng thích ứng; tái tạo nguồn vốn hạ tầng đô thị từ kinh tế tri thức thay cho mô hình “thâm dụng địa ốc” phổ biến hiện nay; hướng tới công bằng xã hội về không gian; xây dựng sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc tế của địa phương; giữ gìn ký ức đô thị…

Dự án luật đưa ra cơ chế sử dụng không gian cộng cộng cho hoạt động công nghiệp văn hoá là một bước tiến quan trọng, nhờ những nỗ lực quyết tâm triển khai thành công các sáng kiến phát triển kinh tế đêm kết hợp văn hoá di sản ở nhiều địa phương, đặc biệt là các đô thị du lịch lớn như Hà Nội (các mô hình không gian đi bộ Hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận, phố ẩm thực kết hợp đi bộ Đảo Ngọc - Ngũ xã, lễ hội thiết kế sáng tạo tại Nhà ga xe lửa Gia Lâm…), TPHCM (như phố đi bộ Nguyễn Huệ, Đường sách đô thị Nguyễn Văn Bình …), Huế (không gian di sản Đại nội về đêm, phố đêm Trường Tiền…). Nhưng chắc chắn, chúng ta sẽ thấy được tiềm năng, hiệu quả lớn hơn nữa nếu có các không gian sáng tạo văn hoá toàn thời gian trên quỹ đất của nhà trường, viện, trung tâm… là đơn vị sự nghiệp trong khu vực nội đô, như những cơ sở thực hành, trải nghiệm sáng tạo văn hoá sau khi cơ sở chính được di dời sang các địa điểm mới.

Trong tương lai, không chỉ đối với đất công trình sự nghiệp hay trụ sở dôi dư mà kể cả các khu công nghiệp, khu công nghệ phần mềm khi đầu tư đã đạt đến ngưỡng giới hạn hoặc do những chuyển biến khó lường của thị trường thế giới, cũng cần được xem xét chuyển đổi một phần hoặc toàn bộ sang mô hình công nghiệp văn hoá, thể thao tập trung. Khi đó, một khu liên hợp phim trường kết hợp công viên chuyên đề có thể được cải tạo từ nhà xưởng trong một khu công nghiệp đóng tàu hoặc chế biến khoáng sản ở các địa phương như: Quảng Ninh, Lâm Đồng, Thanh Hoá... 

Tất nhiên, để hạn chế nguy cơ tiêu cực trong quá trình thực hiện, cần bám sát các mục tiêu đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, 5 năm để triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất linh hoạt thông qua việc áp dụng cơ chế liên thông về thủ tục quản lý sử dụng đất đai, tài sản công, cụ thể theo hướng: 

Chủ sử dụng đất được chuyển đổi công năng lâu dài để thực hiện dự án đầu tư hạ tầng tập trung (cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hoá), đồng bộ với việc được điều chỉnh quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng đất phù hợp mà không bị thu hồi, đấu giá lại quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đang sử dụng. Nghiên cứu gỡ bỏ những hạn chế về ngành nghề kinh doanh để các doanh nghiệp có vốn nhà nước, các đơn vị sự nghiệp thực hiện tự chủ đang là chủ sử dụng đất được phép thực hiện đầu tư theo hướng chỉ cần có 01 ngành nghề hoạt động liên quan đến công nghiệp văn hoá (thủ tục thanh lý hoặc cho phép cải tạo đối với tài sản có vốn nhà nước, trường hợp này cũng cần được sửa đổi để tạo thuận lợi). 

Chủ sử dụng đất được trực tiếp thực hiện hoặc tổ chức đấu thầu cho thuê vận hành tạm thời đối với dự án tổ hợp sáng tạo văn hoá với thời hạn từ 3 năm đến tối đa 5 năm, tuỳ theo quy mô đầu tư, tính chất, hiệu quả khai thác (thực hiện cơ chế “thí điểm”). Đồng thời, được cho phép chuyển đổi công năng đối với công trình trên đất nếu thấy đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện của loại hình dự án này. Trường hợp quá trình thực hiện, chính quyền địa phương xét thấy dự án phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội toàn diện trong khi không có nhà đầu tư lớn quan tâm thì có thể cho điều chỉnh quy hoạch và mục đích sử dụng đất và thanh lý tài sản trên đất đã hết khấu hao. Bên cạnh đó, cần quy định rõ các biện pháp kiểm soát chặt chẽ việc lợi dụng cơ chế này để trục lợi, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước hoặc khai thác không đúng mục đích cho công nghiệp văn hoá.  

Phân cấp cho chính quyền địa phương được ban hành một số quy chuẩn kỹ thuật lồng ghép khai thác sử dụng đa ngành đối với các thiết chế, công trình xây dựng (giao thông, thể thao và các không gian công cộng khác) phục vụ cho phát triển công nghiệp văn hoá.

Phát triển khung nhân lực công nghiệp văn hoá chuyên nghiệp 

Đề xuất khung nhân lực công nghiệp văn hoá theo hướng chuyên nghiệp là một nội dung đề xuất của dự án Luật phát triển công nghiệp văn hoá. Về cơ bản, khung nhân lực được hình thành tương ứng với các chủ thể tham gia vào chuỗi giá trị trong hệ sinh thái, bao gồm các nhóm chủ yếu: Nhân lực sáng tạo nội dung văn hoá; Nhân lực cung cấp các dịch vụ quản trị và tư vấn sáng tạo; Nhân lực công nghệ; Nhân lực lãnh đạo và điều hành hệ sinh thái. 

Bên cạnh nhiều vị trí trong các ngành công nghiệp văn hoá trong nước đang có thì có rất nhiều vị trí chưa có quy chế pháp lý chuẩn hoá theo kinh nghiệm quốc tế. Từ đó dẫn đến thực trạng các quy định của pháp luật hợp đồng và pháp luật lao động trong nước chưa theo kịp. Rất dễ nảy sinh các tranh chấp, đặc biệt cơ chế đầu tư để đào tạo và giữ chân các tài năng trẻ trong các công ty công nghiệp văn hoá cũng như trong áp dụng các chính sách ưu đãi phù hợp để tạo điều kiện cho việc thuê các chuyên gia công nghiệp văn hoá nước ngoài đến làm việc, hỗ trợ đào tạo nhân lực trong nước. Do đó, pháp luật cần giải quyết được những bất cập này, bên cạnh các chính sách thu hút nhân tài và đầu tư cơ sở vật chất phục vụ đào tạo đang được đề xuất trong dự án Luật. Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục cũng cần có cơ chế, chính sách cho phép mở các ngành mới với tư duy, phương pháp đào tạo mới về công nghiệp văn hoá gắn với thực tiễn áp dụng quy trình khai thác, sử dụng nhân lực chuyên nghiệp trong chuỗi giá trị. 

Hỗ trợ tài chính, tín dụng đối với đầu tư cho công nghiệp văn hoá 

Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thông thường hiện chưa “mặn mà” trong việc đầu tư vào lĩnh vực này bởi: ngoài nhu cầu quảng cáo phát sinh trực tiếp, họ chưa thấy được triển vọng rõ ràng từ chiến lược khai thác dòng tiền có được do đầu tư dài hạn gắn với các sản phẩm công nghiệp văn hoá. Mặt khác, chính sách thuế, tín dụng hiện nay chưa đủ hấp dẫn để doanh nghiệp tích cực tham gia vào đầu tư, hợp tác công tư.

Để các ưu đãi tài chính, tín dụng thực sự trở thành đòn bẩy chính sách hiệu quả, cần nghiên cứu áp dụng đồng bộ, hiệu quả đối với các doanh nghiệp, các đơn vị sự nghiệp, cá nhân tham gia trong hệ sinh thái công nghiệp văn hoá.

Chuyển hóa sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hóa trong thời đại Kỷ nguyên mới
Nhà Rông Tây Nguyên là di sản văn hóa gắn liền với lịch sử cư trú lâu đời của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Ảnh: Nguyễn Huế

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ngoài ngành văn hoá, nghiên cứu áp dụng: Ưu đãi lớn hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng cho phép khấu trừ toàn bộ chi phí hợp lệ đã tài trợ cho các dự án văn hoá, nghệ thuật phi lợi nhuận hoặc tham gia cấp vốn mồi đối với dự án đầu tư mạo hiểm hợp tác công tư mang giá trị, bản sắc văn hoá Việt, cho bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Cũng có đề xuất thí điểm cơ chế khấu trừ siêu ngạch thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chi phí hợp đồng quảng bá sản phẩm lồng ghép hoặc mua quyền khai thác bản quyền hình ảnh liên quan đến tác phẩm sáng tạo của Việt Nam có bản sắc, giá trị nghệ thuật cao, phản ánh được tư tưởng thời đại Kỷ nguyên mới (tuỳ theo tính chất sản phẩm gắn với mục tiêu, yêu cầu quảng bá).  

Ưu đãi lớn hơn về thuế suất thu nhập doanh nghiệp (xem xét giảm thuế trong thời gian nhất định) đối với thu nhập phát sinh và về thuế giá trị gia tăng liên quan đến sản xuất, phân phối các dòng sản phẩm công nghiệp văn hoá ứng dụng (sản phẩm phái sinh) mang giá trị, bản sắc Việt (thời trang, quà tặng, thiết kế…) được thương mại hoá từ việc chuyển nhượng quyền khai thác liên quan đến tài sản sáng tạo văn hoá. 

Đối với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân tham gia quan hệ kinh doanh trong các ngành công nghiệp văn hoá trọng điểm, nghiên cứu áp dụng: ưu đãi lớn hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp (giảm thuế suất phổ thông hoặc trong thời gian nhất định đối với một số lĩnh vực như: nghệ thuật biểu diễn, sản xuất phim, gallery nghệ thuật...).

Ưu đãi lớn hơn về thuế giá trị gia tăng (đối với tiền bán vé xem phim, xem biểu diễn nghệ thuật) và nới rộng thời hạn miễn thuế, giảm thuế cho các sản phẩm văn hoá số xuất khẩu (chương trình âm nhạc, game…).

Ưu đãi lớn hơn về thuế nhập khẩu thiết bị công nghệ cao phục vụ cho các dự án công nghiệp văn hoá; về thuế thu nhập cá nhân đối với những người sáng tạo văn hoá là chuyên gia bậc cao (đạo diễn, giám đốc kỹ thuật, biên kịch, chỉ huy dàn nhạc, nhà sản xuất âm nhạc, nhà thiết kế âm thanh, ánh sáng...); đánh giá hiệu quả của các ưu đãi đang được nhiều nước áp dụng (miễn, giảm, nâng ngưỡng thu nhập chịu thuế, bình quân hoá thu nhập nhiều năm, giảm trừ chi phí mặc định v.v..) đối với thu nhập từ tiền bản quyền của tác giả chuyển nhượng tác phẩm phái sinh vào sản xuất công nghiệp, để có lựa chọn áp dụng thích hợp.

Hỗ trợ một phần chi phí sản xuất đối với các sản phẩm công nghiệp văn hoá trọng điểm đối với các doanh nghiệp đã xuất khẩu thành công, khẳng định thương hiệu Việt trên thị trường quốc tế.

Được thế chấp quyền tài sản liên quan đến sáng tạo văn hoá gắn với quyền sở hữu trí tuệ (như hợp đồng chuyển nhượng bản quyền, hợp đồng quảng cáo lồng ghép sản phẩm văn hoá). Từ đó, được vay vốn từ việc thế chấp các hợp đồng đã ký trước mà không cần tài sản hữu hình thế chấp. Đồng thời, các ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ thiết lập cơ chế kiểm soát, phong toả tài khoản thu phí, tiền bán vé, bán sản phẩm phái sinh… của doanh nghiệp thuộc các công nghiệp văn hoá.

Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tham gia chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá, nghiên cứu thực hiện: cho phép đơn vị sự nghiệp công lập được hợp tác công tư với doanh nghiệp theo hình thức chia sẻ doanh thu từ bán vé, bán sản phẩm phái sinh thay vì bắt buộc thẩm định giá trị tài sản công để tính tiền thuê đất/tài sản cố định. Đồng thời, có cơ chế phân chia lợi nhuận vượt trội cho viên chức là những tác giả, nhóm tác giả trực tiếp nghiên cứu, sáng tạo ra sản phẩm hợp tác công tư.

Miễn tiền thuê đất đối với diện tích liên kết theo phương thức đối tác công tư khi sử dụng cho các dự án phát triển sản văn hoá phi lợi nhuận hoặc hỗ trợ khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá (đối với các trường đại học, viện, trung tâm ứng dụng có ngành nghề liên quan đến công nghiệp văn hoá).

Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho nguồn thu sự nghiệp liên kết (đối với các khoản thu từ việc chuyển nhượng quyền khai thác quyền sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản khác gắn với tài sản sáng tạo văn hoá).

Ưu đãi thuế giá trị gia tăng đối với các dịch vụ số hoá nhằm xác lập tài sản số liên quan đến các tài sản do đơn vị sự nghiệp đang quản lý (hiện vật bảo tàng, tư liệu di sản phi vật thể, công trình nghiên cứu khoa học liên quan).

Thí điểm cho phép các trường đại học trọng điểm, cơ quan báo và truyền hình cấp tỉnh được thay mặt chủ sở hữu Nhà nước sử dụng giá trị bản quyền dữ liệu văn hoá số, kết quả công trình nghiên cứu triển khai do đơn vị chủ trì thực hiện, để tham gia góp vốn đầu tư (bằng quyền sở hữu trí tuệ và các nguồn lực hạ tầng kỹ thuật khác liên quan đang nắm giữ) thành lập doanh nghiệp triển khai dự án công nghiệp văn hoá. 

Cung cấp các gói tín dụng chuyên biệt (bảo lãnh vay tín chấp dựa trên nguồn thu sự nghiệp hợp pháp; cấp tín dụng; bảo lãnh thực hiện hợp đồng khi thực hiện đấu thầu, nhận đặt hàng) đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có đề án, dự án hợp tác công tư hoặc thành lập doanh nghiệp đầu tư phát triển công nghiệp văn hoá.

Đối với các cộng đồng bản địa liên quan, nghiên cứu áp dụng cơ chế, chính sách ưu tiên sử dụng dịch vụ tại chỗ đối với các tổ chức, cá nhân từ nơi khác tham gia đầu tư, sản xuất, cung cấp dịch vụ công nghiệp văn hoá. Chẳng hạn, có thể tham khảo kinh nghiệm của Hàn Quốc (tại luật khung về phát triển công nghiệp văn hoá), theo đó nước này cho phép chính quyền cấp tỉnh quy hoạch các đơn vị hành chính (quận) công nghiệp văn hoá trọng điểm. Trong đó, các chủ thể trong hệ sinh thái có thể được hưởng nhiều hình thức ưu đãi, hỗ trợ như giảm tiền thuê văn phòng, các dịch vụ công và hợp tác công tư được cung ứng trong khu vực.

Việc xây dựng thể chế cho phát triển công nghiệp văn hoá cần quan triệt đầy đủ quan điểm Đảng, Nhà nước, trong đó có việc triển khai thực hiện đúng tinh thần “ba chuyển dịch lớn” trong phát triển văn hoá Việt Nam theo chỉ đạo của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Với cách tiếp cận đúng và mang tính đột phá, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ thực hiện được xuất sắc nhiệm vụ giải phóng mặt bằng thể chế, ách tắc thể chế cho phát triển, như một “đại lộ” thông suốt xuyên thẳng qua hàng loạt trở ngại được dựng nên từ: các quy định, lề lối, tư duy chia cắt, phân mảnh, manh mún, lãng phí nguồn lực cố hữu để giải quyết được vấn đề căn cốt về chuyển hoá sức sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hoá bằng các quy luật khách quan. 

..........................

Chú thích

[1] Tờ trình Quốc hội số 811/TTr-CP ngày 02/10/2026 của Chính phủ
[2] Còn tính trùng trong doanh thu của các đơn vị cung cấp dịch vụ trung gian liên quan đến hàng hoá văn hoá trong cách tính đóng góp dịch vụ của du lịch văn hoá (so với du lịch nói chung), bỏ sót số liệu từ các khu vực lao động tư do… (do đó thực chất chưa thể tính được chính xác đóng góp của văn hoá trong TFP)
[3] Kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
[4] Các hãng như Sony, Hitachi, Toshiba, Misubishi Electronic, Panasonic, Shap… đã chủ động thúc đẩy sản xuất các sản phẩm công nghiệp truyền hình, giải trí, trò chơi điện tử từ đầu thập niên 1970-1980
[5] Như CJ, Samsung, Lotte, SM, HYBE…
[6] Trung Quốc sử dụng khái niệm sản nghiệp văn hoá để chỉ công nghiệp văn hoá - sáng tạo phân biệt với sự nghiệp văn hoá 
[7] Như Tencent, Hwa Wei, Net Ease, Byte Dance…
[8] Các đơn vị sự nghiệp văn hoá thuộc các ngành: bảo tồn - bảo tàng, nghệ thuật biểu diễn truyền thống…
[9] Anh áp dụng phương pháp đo lường Cường độ sáng tạo - Creative Intensity; Hàn Quốc áp dụng phương pháp đo lường Hiệu ứng lan toả sóng Hàn (Hallyu Spillover Effect); Hoà Kỳ và các nước Bắc Mỹ, Australia đang áp dụng phương pháp đo lường tài khoản vệ tinh văn hoá (Culture Satellite Account - CSA); nhiều nước liên minh Châu Âu áp dụng Khung định giá tài sản vô hình (Intangible Assets Framework – CHS) theo hướng dẫn của OECD; UNESCO khuyến khích các nước đang phát triển áp dụng bộ Khung chỉ số văn hoá vì sự phát triển (UNESCO CDIS)...
[10] Như Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, Quỹ điện ảnh, Quỹ du lịch… ở Trung ương và một số địa phương 
[11] Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hoá của Quốc hội có quy định thí điểm về Quỹ văn hoá, nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư là quỹ đầu tư mạo hiểm
[12] Hỗ trợ sáng tác, hoàn chỉnh hồ sơ tài sản sáng tạo văn hoá, cho đến hoàn thành đầu tư mồi cho R&D thử nghiệm
[13] Công trình Bảo tàng Đà Nẵng mới được đầu tư năm 2020 với tổng kinh phí 505 tỷ đồng
[14] Tại Điều 22 dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hoá kèm theo Tờ trình số 811/TTr-CP

Bình luận
Bạn cần đăng nhập để bình luận.
Chưa có bình luận nào.