Mất ngủ kéo dài, đau đầu, buồn nôn và mất kinh sau áp lực học tập
Trải qua học kỳ một lớp 10 với kết quả khá tốt, nhưng cô gái dần rơi vào kiệt quệ về sức khỏe vì tình trạng ngủ kém tăng dần lên, có đêm thức tới 2-3h sáng vẫn không ngủ được.
Trường hợp nữ sinh trên được TS.BS Vũ Sơn Tùng, Trưởng phòng Sức khỏe tâm thần trẻ em và vị thành niên, Viện Sức khỏe Tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai) chia sẻ chiều 10/8 tại buổi cung cấp thông tin về rối loạn lo âu tuổi học đường.

Bác sĩ tư vấn cho một bệnh nhân trẻ rối loạn lo âu (Ảnh: L.C).
Nữ sinh có tiền sử sức phát triển tâm thần vận động bình thường, học lực giỏi, mong ước đỗ chuyên. Vì thế, em luôn căng thẳng, lo lắng chuyện học tập, thi cử.
Trong suốt thời gian ôn thi, nhiều đêm em đã học xong bài, nằm lên giường nhưng trằn trọc không ngủ được; thỉnh thoảng bị đau đầu, chóng mặt.
Dù cảm thấy mệt mỏi, nhưng em vẫn cố gắng ôn thi và thi đỗ vào trường cấp III mình mong muốn.
Đáng nói, sau khi thi, dù muốn nghỉ ngơi, ngủ bù nhưng em khó vào giấc, tình trạng đau đầu không giảm. Khi đến môi trường học mới, bệnh nhân thường xuyên lo lắng về việc học tập, lo sợ các bạn không thích mình, lo sợ bố mẹ tốn tiền cho mình đi học.
Kết quả học của kỳ I năm lớp 10 của em khá tốt, nhưng em luôn có cảm giác hồi hộp trống ngực, bồn chồn, không rõ lý do, nhiều lúc không tập trung học được nhưng em cũng không chia sẻ với gia đình.
Đến kỳ II năm lớp 10, bệnh nhân học giảm sút, dễ cáu gắt, ăn uống ít hơn, mệt mỏi hơn trước và bất ngờ mất kinh trong 3 tháng, kèm theo chán ăn, buồn nôn.
Lúc này, mẹ bệnh nhân lo sợ con có thai. Kết quả thử âm tính, em được mẹ đưa đi khám chuyên khoa sản, mọi chỉ số bình thường và được các bác sĩ tư vấn khám chuyên khoa tâm thần.
Tại thời điểm khám, bệnh nhân được trắc nghiệm tâm lý cho thấy tình trạng trầm cảm nhẹ, lo âu và căng thẳng nghiêm trọng.
Sau khi điều trị liệu pháp nhận thức - hành vi 2 buổi/ tuần khoảng 1 tháng, bệnh nhân đỡ lo lắng căng thẳng hơn, đỡ cáu gắt, đỡ đau đầu, ngủ ngon, không còn cảm giác buồn nôn, không còn hồi hộp, bồn chồn.
Sau 2 tháng điều trị, bệnh nhân không còn lo lắng, căng thẳng, thỉnh thoảng còn đau đầu, ngủ được, có kinh nguyệt trở lại, thành tích học tập tốt hơn.
Sau 6 tháng điều trị, bệnh nhân ổn định hoàn toàn, được bác sĩ chỉ định dừng điều trị.
Rối loạn lo âu ở tuổi học đường đang gia tăng
BS Nguyễn Ngọc Trang, Viện Sức khỏe Tâm thần cho biết, 4,1% trẻ 10-14 tuổi có rối loạn lo âu; 5,3% thanh thiếu niên 15-19 tuổi có rối loạn lo âu.
Tại Việt Nam, một khảo sát trên 9.781 người trẻ 15-24 tuổi, trong giai đoạn dịch Covid-19 ghi nhận 15,6% có mức triệu chứng lo âu từ nhẹ đến rất nặng; 10,0% có triệu chứng trầm cảm từ nhẹ đến rất nặng.

TS Tùng chia sẻ tại thông tin về rối loạn lo âu tuổi học đường (Ảnh: L.C).
"Tình trạng rối loạn lo âu khác với lo lắng thông thường. Trong khi lo âu sinh lý thường có nguyên nhân, tình huống rõ ràng và chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn, thì rối loạn lo âu có thể không có nguyên nhân rõ ràng; người bệnh lo lắng quá mức so với tình huống thực tế, đặc biệt kéo dài nhiều tuần hoặc nhiều tháng, khó tự cải thiện.
Ngoài ra, tình trạng rối loạn lo âu còn gây ảnh hưởng đến học tập, sinh hoạt. Bệnh nhân khó tập trung, giảm hiệu quả học tập, suy nghĩ tiêu cực. Bệnh nhân cũng khó kiểm soát được cảm giác lo âu dù đã được động viên, hỗ trợ. Lo âu khiến trẻ né tránh, từ chối đi học hoặc tham gia các hoạt động", BS Trang nói.
Theo TS Tùng, phần lớn trẻ có rối loạn lo âu đi khám lần đầu thường khám chuyên khoa tim mạch, hô hấp, bởi các triệu chứng trẻ gặp phải như khó thở, hụt hơi, đau ngực khiến cha mẹ lo ngại bệnh lý nghiêm trọng.
Theo số liệu tại Viện Sức khỏe Tâm thần, số ca rối loạn lo âu ở trẻ có xu hướng gia tăng. Nếu như 6 tháng cuối năm 2024, số bệnh nhân nội trú khoảng 500 em, thì 5 tháng đầu năm 2025, số bệnh nhân là hơn 700.
Có rất nhiều yếu tố tác động làm tăng nguy cơ rối loạn lo âu ở trẻ, từ yếu tố cá nhân, tiền sử bệnh lý, yếu tố gia đình, nhà trường, áp lực học tập, đến các yếu tố xã hội và môi trường số.
Các chuyên gia khuyến cáo, sự phát triển của công nghệ và mạng xã hội tạo ra nhiều áp lực mới đối với thanh thiếu niên. Nhiều em thường xuyên so sánh bản thân với người khác trên mạng xã hội; áp lực về ngoại hình, thành tích hoặc hình ảnh cá nhân.
Đặc biệt nhiều trẻ bị hội chứng FOMO, luôn lo sợ bị bỏ lỡ thông tin hoặc các hoạt động của bạn bè, luôn cầm điện thoại trên tay vì sợ bạn nhắn tin không biết.
"Việc sử dụng thiết bị điện tử kéo dài, đặc biệt vào ban đêm, dẫn đến thiếu ngủ, giảm hoạt động thể chất và tăng nguy cơ rối loạn lo âu", TS Tùng cảnh báo.
Khi trẻ có các biểu hiện như: Lo âu kéo dài trên nhiều tuần; ảnh hưởng rõ đến học tập; không muốn đến trường; mất ngủ kéo dài; thu mình khỏi bạn bè; có các cơn hoảng sợ; than phiền đau đầu, đau bụng lặp đi lặp lại nhưng không có nguyên nhân thực thể; có biểu hiện tuyệt vọng hoặc nói về việc không muốn sống... cha mẹ cần đưa trẻ đi khám chuyên khoa tâm thần sớm để được tư vấn, can thiệp.