Gia tăng ca mắc ung thư vú, ung thư cổ tử cung
Đây là con số được đề cập đến trong nội dung Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035 đã được Bộ Y tế phê duyệt.
Phát biểu tại hội nghị triển khai công tác phòng, chống ung thư vú, ung thư cổ tử cung khu vực phía Bắc diễn ra tại Hà Nội ngày 30/7, ông Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) cho biết ung thư vú và ung thư cổ tử cung là hai căn bệnh gây ra gánh nặng hàng đầu cho phụ nữ.

Ung thư vú tại Việt Nam có xu hướng gia tăng rõ rệt (Đồ họa: Bộ Y tế).
Ước tính mỗi năm nước ta có khoảng 25.000 ca mắc ung thư vú mới, với 10.000 ca tử vong. Con số này ở ung thư cổ tử cung là 5.000 ca mắc mới và 2.500 ca tử vong.
Tại Việt Nam, ung thư vú ghi nhận xu hướng gia tăng rõ rệt trong hai thập kỷ qua.
Theo các dữ liệu ghi nhận ung thư khu vực, tỷ suất mắc mới chuẩn theo tuổi (ASR) tăng từ 16,2/100.000 phụ nữ năm 2002 lên 23/100.000 năm 2012, tương ứng với hơn 15.000 ca mắc mới và hơn 6.000 ca tử vong mỗi năm trong giai đoạn này.
Các mô hình dự báo trước đây của IARC (Cancer Tomorrow) ước tính ASR ung thư vú tại Việt Nam có thể đạt khoảng 29,3/100.000 phụ nữ vào năm 2030.
Tuy nhiên, số liệu cập nhật từ dữ liệu ghi nhận Ung thư toàn cầu năm 2022 cho thấy gánh nặng bệnh đã tăng nhanh hơn dự báo, với 24.563 trường hợp mắc mới (chiếm 13,6% tổng số ca ung thư ở nữ giới) và khoảng 10.000 trường hợp tử vong (chiếm 8,3%).
Con số này tương ứng với ASR mắc mới 38/100.000 và ASR tử vong 14,7/100.000.
Thực tế này cho thấy ung thư vú tại Việt Nam đang gia tăng nhanh và vượt quá các ước tính trước đây.
Tương tự, ung thư cổ tử cung có xu hướng tăng nhanh trong giai đoạn 2020-2024, ca mắc mới tăng từ gần 2.900 ca lên gần 3.900.
Làm thế nào để phát hiện sớm ung thư vú, ung thư cổ tử cung?
Theo ông Tuấn, những trường hợp tử vong do ung thư vú, ung thư cổ tử cung hoàn toàn có thể phòng tránh được. Đặc biệt, cả hai bệnh đều có thể phát hiện sớm được, khi đó người bệnh có cơ hội được chữa khỏi bệnh.
Riêng đối với ung thư cổ tử cung, hiện nay đã có vắcxin phòng HPV, tác nhân gây ra hơn 99% các trường hợp mắc bệnh.
Mục tiêu của thế giới hiện nay là loại trừ hoàn toàn ung thư cổ tử cung, nghĩa là không còn phụ nữ nào phải mắc và tử vong vì căn bệnh này. Để đạt được điều đó, chúng ta phải triển khai tiêm vắcxin, đồng thời thực hiện sàng lọc để phát hiện sớm và điều trị triệt để.

Ông Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) chia sẻ bên lề sự kiện (Ảnh: N.P).
“Đối với ung thư vú, công tác này khó khăn hơn vì chưa có vắcxin, nhưng chúng ta có rất nhiều biện pháp để phát hiện sớm nhằm điều trị khỏi hoàn toàn và giảm tối đa tỷ lệ tử vong. Quan trọng nhất là công tác truyền thông để người dân biết và tiếp cận các dịch vụ tại cộng đồng và cơ sở y tế như: tự khám vú, siêu âm vú hoặc chụp nhũ ảnh (mammography)”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Bộ Y tế đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035. Đây là kế hoạch quan trọng của ngành y tế, hướng tới chăm sóc sức khỏe, bảo toàn vốn sống của người phụ nữ.
Nhấn mạnh đến gánh nặng kinh tế do ung thư mang lại, ông cho rằng gia đình không nghèo khi có người mắc ung thư cũng trở thành nghèo, gia đình đã nghèo thì rơi vào tình trạng kiệt quệ.
Cũng vì thế, một trong những định hướng ưu tiên trong giai đoạn 2026-2035 là bảo đảm tài chính bền vững cho phòng chống hai bệnh ung thư này. Trong đó, lồng ghép kinh phí cho hoạt động sàng lọc phát hiện sớm và điều trị vào các chương trình mục tiêu y tế, quỹ BHYT và huy động nguồn lực xã hội hóa, hợp tác công - tư.