Bác sĩ định vị chính xác tổn thương ung thư vú nhỏ chỉ vài mi-li-mét

(TinVina) - PGS.TS.BS Lê Hồng Quang, Trưởng khoa Ngoại vú, Bệnh viện K, cho biết, hiện nay, nhiều tổn thương vú được phát hiện ở giai đoạn rất sớm, còn rất nhỏ và chưa thể sờ thấy trên lâm sàng.

"Nhờ phát hiện tổn thương vú ở giai đoạn rất sớm này, việc điều trị mang lại hiệu quả rất cao, với khoảng 85-90% bệnh nhân ung thư vú có thể sống trên 5 năm, tiệm cận với các nước phát triển", PGS Quang nói.

Theo chuyên gia, có được thành quả này là nhờ sự phát triển của các phương pháp hiện đại sàng lọc ung thư vú, cho phép định vị chính xác vị trí tổn thương của ung thư vú ngay từ giai đoạn chưa thể sờ thấy trên lâm sàng. Việc định vị chính xác tổn thương có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm giúp phẫu thuật viên lấy trọn tổn thương nhưng vẫn bảo tồn tối đa mô tuyến vú lành.

Ngày nay, các phương pháp định vị tổn thương sớm của tuyến vú giúp truy tìm, xử lý chính xác tổn thương chỉ vài mi-li-mét, kích cỡ tổn thương rất nhỏ.

PGS Quang cho biết, các phương pháp định vị tổn thương vú không sờ thấy trên lâm sàng được chia thành hai nhóm chính: định vị có dây và định vị không dây.

Định vị có dây

Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nhiều thập kỷ qua và từng được xem là tiêu chuẩn vàng trong phẫu thuật các tổn thương vú không sờ thấy.

Bác sĩ định vị chính xác tổn thương ung thư vú nhỏ chỉ vài mi-li-mét

Bác sĩ Bệnh viện K thực hiện một ca định vị có dây trong phẫu thuật tổn thương vú không sờ thấy (Ảnh: Trần Hà).

Trong kỹ thuật này, dưới hướng dẫn của siêu âm, X-quang hoặc cộng hưởng từ vú, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh sẽ đưa một kim đặc biệt vào vị trí tổn thương, sau đó luồn một sợi dây có đầu móc cố định trong mô vú. Phần dây còn lại nằm ngoài da và được cố định cho đến khi bệnh nhân được đưa vào phòng mổ. Phẫu thuật viên sẽ dựa vào đường đi của dây để xác định vị trí tổn thương cần cắt bỏ.

Ưu điểm của phương pháp này là kỹ thuật tương đối đơn giản, chi phí thấp và đã được chứng minh hiệu quả qua nhiều năm áp dụng. Tuy nhiên, định vị bằng dây cũng tồn tại một số hạn chế như gây khó chịu cho người bệnh, nguy cơ di lệch dây.

Định vị không dây

Khác với phương pháp định vị bằng dây truyền thống, với định vị không dây, bác sĩ đặt một thiết bị đánh dấu nhỏ vào trong tổn thương dưới hướng dẫn của siêu âm, X-quang hoặc cộng hưởng từ vú.

Thiết bị đánh dấu có thể được đặt trước phẫu thuật nhiều ngày hoặc nhiều tuần mà không gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người bệnh, không có bộ phận nằm ngoài da người bệnh.

Bác sĩ định vị chính xác tổn thương ung thư vú nhỏ chỉ vài mi-li-mét

Bác sĩ Bệnh viện K thực hiện định vị không dây một trường hợp tổn thương vú không sờ thấy (Ảnh: Trần Hà).

"Khi thực hiện ca mổ, phẫu thuật viên sử dụng đầu dò xác định chính xác khối u đến từng mi-li-mét để lấy trọn tổn thương mà không ảnh hưởng đến vùng mô vú lành xung quanh", PGS Quang thông tin.

Ông cho biết thêm, công nghệ định vị không dây Savi Scout sử dụng công nghệ radar điện từ, hiện được sử dụng rất phổ biến trên thế giới.

Một bộ phản xạ tín hiệu được đặt tại vị trí tổn thương và phản hồi tín hiệu hồng ngoại phát ra từ đầu dò cầm tay của phẫu thuật viên.

"Hệ thống cho phép xác định chính xác vị trí cũng như khoảng cách đến tổn thương theo thời gian thực trong quá trình phẫu thuật. Đây là phương pháp không sử dụng phóng xạ và ít bị ảnh hưởng bởi các dụng cụ kim loại trong phòng mổ", PGS Quang nói.

Chuyên gia đánh giá, định vị không dây mang lại nhiều lợi ích như tăng sự thoải mái cho người bệnh, đặt thiết bị định vị đánh dấu vị trí các khối u và hạch trước điều trị hóa trị tân bổ trợ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phẫu thuật viên trong việc tiếp cận tổn thương. 

Mặc dù định vị có dây vẫn được sử dụng rộng rãi nhờ tính hiệu quả và chi phí hợp lý, xu hướng hiện nay trên thế giới đang chuyển dần sang các kỹ thuật định vị không dây nhờ những ưu điểm vượt trội về tính chính xác, sự thuận tiện và trải nghiệm của người bệnh. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp sẽ phụ thuộc vào đặc điểm tổn thương, điều kiện trang thiết bị cũng như kinh nghiệm của từng cơ sở y tế.

Định vị tổn thương vú (kích thước rất nhỏ không sờ thấy trên lâm sàng) đóng vai trò quan trọng trong điều trị các bệnh lý tuyến vú, đặc biệt là ung thư vú giai đoạn sớm. Bệnh viện K đã triển khai kỹ thuật này với nhiều người bệnh nhằm can thiệp tối thiểu và chính xác nhất các tổn thương sớm nhằm nâng cao chất lượng điều trị bệnh ung thư vú.

"Sàng lọc phát hiện ra các tổn thương vú sớm đã khó nhưng định vị xác định chính xác các tổn thương để xử lý và can thiệp không làm ảnh hưởng đến mô vú lành xung quanh, can thiệp tối thiểu mang lại hiệu quả tối đa là công việc còn khó hơn", PGS Quang đánh giá.

Theo GLOBOCAN, năm 2022 ung thư vú có số lượng mắc mới là gần 2,3 triệu người, chiếm 23,8% trong các loại ung thư thường gặp ở phụ nữ. Tại Việt Nam, năm 2022 số mắc mới ung thư vú là 24.563 người, là bệnh có tỷ lệ mắc nhiều nhất trong số các ung thư ở phụ nữ và có xu hướng ngày càng trẻ hóa.

Tại Việt Nam trước đây có tới 3/4 bệnh nhân ung thư vú đến khám ở giai đoạn muộn, nhưng hiện nay, tỷ lệ này đã đảo ngược, với khoảng 3/4 bệnh nhân được phát hiện sớm. Nhờ sự phát triển đồng bộ của các hệ thống, từ chẩn đoán đến điều trị và quản lý sau điều trị, tỷ lệ sống và chất lượng điều trị cho bệnh nhân ung thư vú được nâng cao rõ rệt.

Bình luận
Bạn cần đăng nhập để bình luận.
Chưa có bình luận nào.