Trăn trở phía sau việc Mỹ thành nước xuất khẩu dầu thô số 1 thế giới

(TinVina) - Xung đột ở Trung Đông đã khiến Mỹ thành nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, nhưng điều này cũng đang khiến Washington có những băn khoăn nhất định.
Trăn trở phía sau việc Mỹ thành nước xuất khẩu dầu thô số 1 thế giới

Mỹ đã trở thành nhà xuất khẩu dầu thô số 1 thế giới (Ảnh: NYT).

Các tàu chở dầu đang đổ về Mỹ từ khắp nơi trên thế giới với số lượng chưa từng có. Tổng cộng, trong 9 tuần qua, hơn 250 triệu thùng dầu thô từ các mỏ dầu và kho chứa trên khắp nước Mỹ đã được xuất khẩu ra nước ngoài.

Điều đó đã đưa Mỹ một lần nữa trở thành nước xuất khẩu dầu thô số 1 thế giới, vượt Ả rập Xê út, đồng thời biến nước này thành một trong những “phao cứu sinh” cho người tiêu dùng toàn cầu khi việc gần như đóng cửa eo biển Hormuz làm nghẹt nguồn cung từ Trung Đông.

Tuy nhiên, xuất khẩu kỷ lục của Mỹ cũng đi kèm cảnh báo rằng nguồn cung này đang nhanh chóng bị đẩy tới giới hạn. Nhiều chuyên gia năng lượng đặt câu hỏi Mỹ có thể duy trì mức xuất khẩu như vậy trong bao lâu. Tồn kho nội địa của Mỹ đang giảm nhanh, với tổng dự trữ dầu và nhiên liệu giảm liên tiếp trong 4 tuần xuống dưới mức trung bình lịch sử. Trong khi đó, các nhà sản xuất dầu của Mỹ đang gặp khó khăn để theo kịp tốc độ xuất khẩu dầu.

“Các con tàu đang đến để lấy dầu của chúng ta, nhưng khi khối lượng lớn dầu rời khỏi Mỹ, có thể dự đoán rằng cân bằng cung - cầu sẽ thắt chặt”, ông Clayton Seigle, chuyên gia cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington, nhận định, cảnh báo nguy cơ khi Washington đang tiêu hao mạnh mẽ nguồn dự trữ.

Đây là vấn đề có hệ quả toàn cầu. Ngay cả với dòng xuất khẩu ổn định của Mỹ trong những tuần gần đây, điều đó vẫn chưa đủ để bù đắp sự thiếu hụt nguồn cung do eo biển Hormuz bị bóp nghẹt. Dầu Brent, chuẩn tham chiếu chính, đã tăng giá khoảng 50% kể từ khi xung đột bùng nổ. Nếu xuất khẩu dầu thô của Mỹ đang tiến gần mức tối đa, cạnh tranh giành nguồn cung sẽ còn gay gắt hơn.

Tại Mỹ, lạm phát năng lượng được dự báo sẽ ảnh hưởng lớn tới cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11. Giá xăng bán lẻ đang tăng mạnh, và một số cử tri chắc chắn sẽ đặt câu hỏi vì sao quá nhiều dầu lại được xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

Mặt khác, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ca ngợi sự gia tăng xuất khẩu này. “Điều này thật đáng kinh ngạc. Lượng dầu và khí đốt mà chúng ta đang bán hiện ở mức chưa từng thấy”, ông nói ngày 1/5.

Phần lớn dầu rời khỏi nước Mỹ đã hướng tới châu Á. Các nhà máy lọc dầu trong khu vực trước đây chủ yếu dựa vào vịnh Ba Tư, nhưng xung đột đã buộc họ phải chuyển mạnh sang dầu Mỹ.

Sự chuyển đổi của Mỹ từ nước nhập khẩu ròng sang nhà cung cấp lớn toàn cầu là tương đối mới.

Sự thay đổi này bắt nguồn từ “cuộc cách mạng dầu đá phiến” đầu những năm 2000, khi các kỹ thuật khoan ngang và nứt vỉa thủy lực từ Texas đến Bắc Dakota nhanh chóng thúc đẩy sản lượng trong nước.

Năm 2015, Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu vốn được áp đặt sau lệnh cấm vận dầu mỏ của các nước Ả rập những năm 1970. Đến năm 2019, sản lượng đá phiến bùng nổ đã giúp Mỹ trở thành nước xuất khẩu ròng dầu và nhiên liệu.

Ông Trump, người ủng hộ mạnh mẽ vị thế “thống trị năng lượng” của Mỹ, nhiều lần nhấn mạnh khả năng của Mỹ trong việc bù đắp khoảng trống nguồn cung do xung đột Iran gây ra.

Các Tổng thống Mỹ từ thời Jimmy Carter đã lo ngại về nguồn cung nhiên liệu, vấn đề có thể ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại. Nhưng ông Trump, được củng cố bởi nền kinh tế sản xuất dầu lớn hàng đầu thế giới, có thể ít lo ngại hơn về thiếu hụt trong nước so với các lãnh đạo tiền nhiệm.

Dù vậy, “sự thống trị năng lượng” của Mỹ đang bị thử thách. Sản lượng dầu đã giảm khoảng 100.000 thùng/ngày kể từ khi xung đột Iran bắt đầu. Các nhà khai thác vẫn do dự trong việc tăng sản lượng dù giá tăng, do khó dự đoán thị trường.

Các tập đoàn lớn như Exxon Mobil và Chevron cũng đối mặt với gián đoạn tại Trung Đông. CEO Chevron Mike Wirth ngày 1/5 cho biết hệ thống năng lượng toàn cầu đang chịu “áp lực cực lớn”. Một ngày trước đó, ConocoPhillips cảnh báo “thiếu hụt nghiêm trọng” sắp xảy ra.

Khi xuất khẩu dầu Mỹ đạt kỷ lục, các nhà giao dịch cho biết hoạt động này đang tiến gần giới hạn thực tế, do vấn đề hạ tầng và vận tải hạn chế. Dù công suất danh nghĩa thường được nêu gần 10 triệu thùng/ngày, mức ổn định thực tế có thể gần 6 triệu thùng/ngày, và chỉ có thể đạt khoảng 7 triệu trong thời gian ngắn.

Nút thắt chính nằm ở vận tải biển, nơi nguồn tàu và chi phí trung chuyển ngoài khơi hạn chế khả năng bốc hàng.

Xuất khẩu tăng cũng khiến dự trữ nội địa giảm mạnh. Tổng dự trữ dầu và sản phẩm dầu của Mỹ đã giảm 52 triệu thùng trong 4 tuần liên tiếp. Dự kiến mức giảm tồn kho sẽ tiếp diễn khi xung đột kéo dài, với khả năng giảm hàng triệu thùng trong tháng 5.

Tuy nhiên, Mỹ vẫn đang xuất khẩu lượng lớn dầu và nhiên liệu trong khi giá trong nước tăng. Giá xăng trung bình đã cao hơn 1 USD/gallon so với khi xung đột bắt đầu, còn diesel tăng gần 2 USD.

Nhu cầu nhiên liệu cũng dự kiến tăng khi người Mỹ bước vào mùa du lịch hè. Chính quyền ông Trump đã áp dụng một số biện pháp để kiềm chế lạm phát năng lượng, như nới lỏng luật hàng hải hơn 100 năm và cho phép pha trộn thêm ethanol vào xăng. Nhưng các công cụ của Nhà Trắng vẫn hạn chế và chưa thực sự làm giảm được đà tăng của giá nhiên liệu. 

Bình luận
Bạn cần đăng nhập để bình luận.
Chưa có bình luận nào.