40 năm ôm ấp độc lập và dân chủ
Nhà chí sĩ cách mạng, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước ở Thạnh Bình, Tiên Cảnh, Tiên Phước, thuộc tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng), có cậu ruột là Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Đình Tựu.
Từ lúc thiếu niên, Huỳnh Thúc Kháng đã thông thuộc kinh sách, hiển tài thơ phú. 24 tuổi đỗ đầu kỳ thi Hương, 28 tuổi đỗ tiến sĩ. Không chọn con đường làm quan mà sớm thực thi lý tưởng canh tân đất nước của kẻ sĩ chân chính, ngay lúc tóc còn xanh, cụ Huỳnh đã sát cánh cùng những lãnh tụ của Phong trào Duy Tân như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can, một lòng vì độc lập dân tộc.
32 tuổi bị bắt và kết án chém; 1/3 cuộc đời hoạt động cách mạng của cụ là 13 năm (1908-1921) bị giam ở Côn Đảo:
...Dầu đến lúc núi sụp biển lồi, trời nghiêng đất ngả,
Tấm lòng vàng tạc đá vẫn chưa mòn...
Hai câu thơ trên trích ở bài Lưu biệt với khí tiết lạc quan, cứng cỏi của cụ Huỳnh thời kỳ đó được rất nhiều đồng chí Duy Tân và những người cộng sản ghi tâm.
Trong lao tù, nhiều kế sách cứu nước vẫn không ngừng được ấp ủ và khai sinh mà không song sắt nào ngăn nổi. Cụ tự học tiếng Pháp để thông thạo tiếng nói của kẻ thù, để khi được trả tự do tiếp tục lao vào hoạt động chính trị, công khai làm cách mạng, tham gia hoạt động ở nghị trường, rồi cả đời bền bỉ cất tiếng nói cương quyết tranh đấu đòi quyền lợi cho dân, cho nước.
TIẾNG DÂN - tiếng nói của người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do và tự chủ
Tháng 10/1926, đơn xin phép xuất bản tờ báo bằng chữ Quốc ngữ có tên là Tiếng Dân (La Voix du Peuple) của cụ Huỳnh đã được gửi tới Toàn quyền P. Pasquier.
Ngay ở số đầu tiên ra ngày 10/8/1927, bài xã luận do Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Huỳnh Thúc Kháng viết, đã tuyên bố: “Nếu không có quyền nói thì ít ra cũng giữ được cái quyền không nói những điều người ta buộc nói”. “Tôi là nhà cách mạng công khai, tôi đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam một cách công khai. Vì đất nước Việt Nam có biên cương và lãnh thổ công khai trên bản đồ thế giới. Cho nên, tôi cũng công khai nói lên tiếng nói của người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do và tự chủ. Do đó, tôi thách đố mọi trừng phạt và hiểm nguy đến với cá nhân tôi” (Tiếng Dân, số ra ngày 1/5/1929). Thách thức chính quyền thực dân và bày tỏ cái chí của mình trước quốc dân đồng bào như thế, một dũng khí “rất Huỳnh Thúc Kháng”!
Có lần, do không chịu đăng một thông báo do Tòa Khâm sứ Trung Kỳ nhờ và bị dọa đóng cửa tòa báo, cụ Huỳnh cười: “Tôi nghĩ việc cho đăng hay không đăng một bài báo là quyền của chủ nhiệm báo cũng như cho xuất bản hay đóng cửa một tờ báo là quyền của chánh phủ. Nay quan lớn cất cái quyền ấy của tôi thì chẳng khác nào quan lớn đã đóng cửa tờ Báo Tiếng Dân rồi vậy. Mà tôi cũng không trông mong gì hơn, vì dưới quyền ngôn luận quá chật hẹp, tôi thấy cái nhiệm vụ của tôi đối với nhân dân quá sức nặng nề”. Uy tín cụ Huỳnh quá lớn, Khâm sứ Jabouille dù tức giận cũng không dám đóng cửa Tiếng Dân.
Lại một chuyện khác, liên quan quảng cáo và đạo đức nghề báo. Một quảng cáo của nhà thuốc ở Đà Nẵng có mấy chữ “cải tử hoàn sanh” muốn đăng trên Tiếng Dân. Cụ Huỳnh từ chối. Bên quảng cáo liền tăng tiền lên gấp đôi, cụ Huỳnh bảo nhân viên tòa soạn gửi trả lại kèm theo một lá thư nói thẳng là “không thể đăng được vì lời quảng cáo quá lố, không đúng sự thật”: “Báo ta sở dĩ được nhân dân tín nhiệm là nhờ ở chỗ không bao giờ láo khoét. Nhà thuốc trả tiền gấp 10 cũng không đăng. Tiếng Dân vụ lòng tín nhiệm của nhân dân hơn tiền bạc”.
Dù rất quyết liệt chống chính quyền thực dân, nhưng Tiếng Dân lại là tờ báo xuất bản được lâu nhất trong thời kỳ thực dân ở Đông Dương, suốt 16 năm. Làm báo như thế, Huỳnh Thúc Kháng đã để lại một dấu son sáng chói trong lịch sử những tờ báo yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX ở nước ta.
Cụ Huỳnh và Cụ Hồ
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc đến câu nói của cụ Huỳnh: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc’’.
Kính trọng tài năng và đức độ của cụ Huỳnh, Cụ Hồ đã nhiều lần mời cụ Huỳnh tham gia Chính phủ mới. Dù ban đầu từ chối vì “lúc cần tăng gia sản xuất mà tôi không biết cầm cày, cầm cuốc; lại cần phải kháng chiến mà tôi lại không mang súng nổi”, nhưng sau đó vì việc nước cần, dân muốn, cụ Huỳnh đã nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ (từ tháng 3/1946 đến tháng 4/1947). Trong đó, từ ngày 31/5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội sang Paris đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp, cụ Huỳnh đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước, để “dĩ bất biến ứng vạn biến (lấy cái không đổi ứng phó với mọi biến động)” trong thời gian Cụ Hồ đi vắng, rồi làm Đặc phái viên của Chính phủ tại Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ đóng tại Quảng Ngãi.
Khi cụ Huỳnh rời cõi tạm, ngày 29/4/1947, Hồ Chủ tịch đã viết một bức thư thống thiết cho quốc dân đồng bào để ghi nhớ “một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”; “là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan”; “Cả đời không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan”; “Cả đời chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập...”; “Cụ Huỳnh tuy tạ thế nhưng cái chí vì nước, vì nòi của Cụ vẫn luôn luôn sống mạnh mẽ trong lòng 20 triệu đồng bào chúng ta...”.
Mùa xuân năm 1949, Hồ Chủ tịch chọn đặt tên Trường dạy làm báo đầu tiên của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng, bởi Người muốn nhắc nhủ tất cả đội ngũ làm báo phải noi theo gương sáng của cụ Huỳnh - một trí thức yêu nước, một chí sĩ cách mạng, một nhà báo xuất sắc, người đã dành cả đời mình cho một sự nghiệp duy nhất: Vì Nước Vì Dân!
Mang tên Huỳnh Thúc Kháng là mang tên lòng yêu nước, mang tinh thần văn hiến Việt Nam, mang sứ mệnh của một ngòi bút chiến đấu.
Ngôi trường cách mạng đầu tiên dạy làm báo
“Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng” nằm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, hoạt động từ tháng 4 đến tháng 7/1949. Khóa học đầu tiên có 42 học viên và cũng là khóa học duy nhất của trường.
Ngôi trường khai sinh trong sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ và Trung ương Đảng đối với ngành báo chí, từ việc Bác chỉ đạo mở trường và đặt tên, đến hai bức thư Người gửi cho trường, cùng sự tham gia trực tiếp tổ chức, giảng dạy của nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Tổng bộ Việt Minh như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Lê Quang Đạo, Xuân Thủy, Đỗ Đức Dục... Có thể nói, đây là nơi hình thành lý luận và thực tiễn về báo chí theo quan điểm Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chủ tịch tuy không trực tiếp giảng dạy, nhưng hai bức thư của Người đã đúc kết, gói ghém, chỉ rõ mục đích, nội dung học tập, phương hướng phấn đấu của người làm báo cách mạng, của tờ báo cách mạng. Người chỉ vẽ từng khâu của quá trình lao động báo chí như đi thực tế, viết và biên tập... Người dạy: Viết báo là để Nhân dân đọc, qua đó mà tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục Nhân dân đoàn kết, thi đua giành thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Muốn trở thành nhà báo giỏi thì phải gần gũi quần chúng, học tập quần chúng, phải đi nhiều để có vốn sống, phải học nhiều để có trình độ, phải học tập suốt đời, phải biết ngoại ngữ để học tập kinh nghiệm thế giới. Tờ báo phải đẹp. Bài báo phải trong sáng, phải hay, phải được đa số dân chúng ham chuộng... Học viên Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng ra trường hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng đều nỗ lực góp phần quan trọng hình thành nên hình mẫu Nhà báo Chiến sĩ - một lực lượng đặc biệt và hùng mạnh đóng góp vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, vào truyền thống vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam.
Cụ Huỳnh đã “sống mãi” với báo chí cách mạng như thế, ngay cả khi cụ đã ra đi.
Năm 2024, sau 75 mùa xuân, ngay trên mảnh đất lịch sử năm xưa, tiếng trống khai giảng của trường lại vang lên, Di tích Quốc gia Địa điểm Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng đã chính thức khánh thành công trình tu bổ và tôn tạo do Bảo tàng Báo chí Việt Nam làm chủ đầu tư và đảm trách toàn bộ ý tưởng, nội dung thiết kế, trưng bày. Một cách để nhớ, để tiếp tục làm sống mãi ngọn lửa Huỳnh Thúc Kháng trên mỗi trang báo, dòng tin của thế kỷ mới.
Công chúng cả nước, các nhà báo cả nước đã về nguồn tại đây, để hiểu hơn về những bài giảng đầu tiên về báo chí cách mạng, để thấu tỏ hơn tinh thần, khí chất làm báo Huỳnh Thúc Kháng từ Tiếng Dân, sau 99 năm không ngừng trau dồi và phát triển (8/1927-8/2026). Đó cũng là tâm huyết, là nguyện vọng của các thế hệ người làm báo Việt Nam hôm nay.

Nhằm tưởng nhớ, tri ân và tôn vinh những đóng góp to lớn của nhà báo Huỳnh Thúc Kháng đối với sự nghiệp cách mạng và nền báo chí cách mạng Việt Nam; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, làm sâu sắc giá trị di sản báo chí của Huỳnh Thúc Kháng, khẳng định vị trí, ý nghĩa lịch sử của Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng- cơ sở đào tạo báo chí cách mạng đầu tiên của nước ta, ngày 30/9/2026, Tỉnh ủy Thái Nguyên phối hợp Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học và Trưng bày chuyên đề với chủ đề “Huỳnh Thúc Kháng- Từ Báo Tiếng Dân đến Trường dạy làm báo” tại tỉnh Thái Nguyên. Nhiều tư liệu, hình ảnh, hiện vật về thân thế, sự nghiệp, khí tiết của nhà báo lớn Huỳnh Thúc Kháng và lịch sử Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng trên chiến khu Việt Bắc được giới thiệu với công chúng trong dịp này.