Trên bán đảo Phương Mai (Gia Lai) còn tồn tại những đoạn lũy đá cổ hàng trăm năm tuổi, từng giữ vai trò phòng thủ cửa biển Thị Nại. Theo các nhà nghiên cứu, từ vương triều Chăm Pa đến triều Nguyễn, Thị Nại là cửa biển trọng yếu, giữ vị trí đặc biệt trong thế trận phòng thủ.
Từ vị trí cao trên bán đảo, toàn cảnh cửa biển hiện ra với cầu Thị Nại bắc qua đầm và tàu thuyền tấp nập ra vào cảng Quy Nhơn. Các nhà nghiên cứu cho rằng chính địa thế này khiến Phương Mai nhiều thế kỷ giữ vai trò yết hầu, kiểm soát tuyến hàng hải và bảo vệ khu vực nội địa.

Lũy đá cổ được dựng bằng những khối đá hoa cương xếp khít lên nhau mà không sử dụng chất kết dính (Ảnh: Công Sơn).
Theo ông Nguyễn Viết Tuấn, Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ bảo tàng, Bảo tàng Gia Lai, từ thời Chăm Pa, Tây Sơn đến triều Nguyễn, Thị Nại luôn được coi là vị trí quân sự trọng yếu. Muốn tiếp cận kinh đô Vijaya của Vương quốc Chăm Pa bằng đường biển, hầu hết đoàn thuyền đều phải đi qua cửa biển này.
Cuối thế kỷ XVIII, quân Tây Sơn xây dựng hệ thống công trình phòng thủ, bố trí đại bác tại bãi Nhạn Châu và núi Tam Tòa nhằm khống chế cửa biển, bảo vệ thành Hoàng Đế. Sang thời Nguyễn, hệ thống phòng thủ này được mở rộng với pháo đài, kho tàng, lũy đá và pháo đài Hổ Ky.
Đến nay, trên bán đảo Phương Mai vẫn còn 2 đoạn lũy khá nguyên vẹn tại gò Kinh Để và gò Vũng Tàu. Tuyến lũy ở gò Kinh Để dài khoảng 100m, nối với khu vực pháo đài Hổ Ky, trong khi tuyến tại gò Vũng Tàu dài 600m, men theo sườn núi hướng ra cửa biển.
Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng "Trấn Thị Nại có một pháo đài Hổ Ky được xây dựng kiên cố (ngày nay nằm dưới chân Trạm Hải Đăng Hải Minh). Phía sau lưng pháo đài, trên đỉnh núi Tam Tòa của bán đảo Phương Mai là hệ thống thành lũy hiểm trợ, được xây dựng tại 2 nơi riêng biệt là gò Vũng Tàu (Hải Minh trong) và gò Kinh Để (Hải Minh ngoài)".

Từ lũy Phương Mai có thể nhìn bao quát làng chài Hải Minh và hoạt động tàu thuyền ra vào cửa biển Thị Nại (Ảnh: Công Sơn).
Điểm đặc biệt của lũy Phương Mai là cách tận dụng địa hình tự nhiên. Thay vì xây trên nền bằng phẳng, tuyến lũy ôm theo sườn núi, kết nối các điểm cao có tầm quan sát rộng.
Theo Tiến sĩ Đinh Bá Hòa, nguyên Giám đốc Bảo tàng Bình Định (nay là Bảo tàng Gia Lai), công trình được xây bằng đá hoa cương khai thác tại chỗ. Những khối đá có kích thước khác nhau được xếp khít mà không sử dụng chất kết dính. Thân lũy có dạng hình thang với chân rộng, giúp tăng độ ổn định trên nền dốc.
“Hệ thống lũy được bố trí đúng vị trí hiểm yếu, vừa quan sát hiệu quả cửa biển Thị Nại, vừa tạo thành chốt chặn các hướng tiến công từ biển”, ông Hòa nhận định.
Ông Hòa cho rằng giá trị của công trình không chỉ nằm ở kỹ thuật ghép đá mà còn phản ánh tư duy quân sự, nghệ thuật phòng thủ của cư dân vùng duyên hải qua nhiều thời kỳ lịch sử.

Lũy đá Phương Mai được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2010 (Ảnh: Công Sơn).
Cuối thế kỷ XIX, khi người Pháp xây dựng hệ thống công trình quân sự mới tại Quy Nhơn, phần lớn hệ thống phòng thủ cũ dần bị thay thế hoặc xuống cấp. Hai đoạn lũy đá trên bán đảo Phương Mai trở thành những dấu tích hiếm hoi còn sót lại.
Năm 2010, lũy đá Phương Mai được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Tuy nhiên, theo chính quyền địa phương, di tích đang chịu tác động của quá trình phong hóa, cây cối phát triển và đô thị hóa.
Các nhà nghiên cứu cho rằng cần sớm khảo sát, hoàn thiện hồ sơ khoa học và có giải pháp bảo tồn lâu dài để gìn giữ một chứng tích đặc biệt về hệ thống phòng thủ cửa biển Thị Nại cũng như lịch sử hình thành vùng đất Gia Lai.