Lãi suất vay vượt mốc 10%, doanh nghiệp xoay xở cách nào?

(Dân trí) - Mặt bằng lãi suất cho vay duy trì ở mức cao buộc các doanh nghiệp phải tính kỹ bài toán kinh doanh, chưa vội mạnh tay đầu tư, mở rộng sản xuất…

“Vẫn có ngân hàng cấp vốn với hạn mức tín dụng cao, nhưng doanh nghiệp không dám vay nữa!”, ông Lê Mai Hữu Lâm - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần sản xuất thiết bị điện công nghiệp Cát Vạn Lợi, mở đầu câu chuyện về vốn vay với phóng viên Dân trí.

Là doanh nghiệp có lịch sử tín dụng tốt, có khả năng tiếp cận dòng vốn nhưng hiện tại, công ty của ông Lâm không dám sử dụng nhiều đòn bẩy vốn bởi lãi suất cao, “làm cả năm chỉ đủ trả lãi ngân hàng”.

Sức ép trả nợ vay ngày một tăng

Số liệu mới nhất được Ngân hàng Nhà nước công bố về lãi suất của các tổ chức tín dụng với khách hàng trong tháng 8 cho thấy, lãi suất cho vay bình quân của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng cổ phần đối với khoản vay mới và còn dư nợ cũ từ 8,4%-10,7%/năm.

Riêng lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm (bằng mức trần quy định của Ngân hàng Nhà nước).

Như vậy, lãi suất cho vay mới và khoản vay cũ bình quân ở nhiều ngân hàng thương mại đã vượt mốc 10%/năm, cao hơn đáng kể so với trước đó. Ghi nhận thực tế của phóng viên, nhiều doanh nghiệp đang phải trả mức lãi suất cao hơn.

Lãi suất vay vượt mốc 10%, doanh nghiệp xoay xở cách nào?

Lãi suất cho vay bình quân tại nhiều ngân hàng đã vượt 10%/năm (Ảnh: Thành Đông).

Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Xuân Nguyên, cho biết doanh nghiệp đang chịu mức lãi suất lên tới 14%/năm. Tỷ trọng vay vốn ngân hàng trong tổng vốn của công ty khoảng 20% nên khi lãi suất tăng, sức ép tài chính là rất lớn.

Bên cạnh lãi suất tăng cao, doanh nghiệp như Xuân Nguyên đồng thời chịu nhiều sức ép khác khi từ đầu năm đến nay, chi phí xăng dầu, logistics, cũng như chi phí vận hành, quản lý doanh nghiệp đều tăng. Ngược lại, sức mua có xu hướng giảm mà doanh nghiệp không thể tăng giá sản phẩm.

“Trước đây, khi lãi suất lên cao hơn mức này, Nhà nước đã có những biện pháp can thiệp và TPHCM cũng luôn có các chính sách hỗ trợ vốn vay cho doanh nghiệp. Hiện tại, sau chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về giảm lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp, nhiều ngân hàng đã công bố các gói vay hỗ trợ trong những lĩnh vực ưu tiên, nhưng phía Xuân Nguyên vẫn chưa tiếp cận được”, ông Nguyên thông tin.

Trở lại với câu chuyện “có hạn mức tín dụng cao nhưng không dám vay thêm”, ông Lê Mai Hữu Lâm phân tích, một năm doanh nghiệp sản xuất cơ khí phụ trợ làm tốt chỉ có thể đạt lợi nhuận khoảng 7%. Trong khi đó, nếu lãi suất vay lên 8%/năm, doanh nghiệp sẽ không còn nhiều dư địa để trang trải các chi phí khác và tạo lợi nhuận.

Với doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện, cơ khí phụ trợ, biên lợi nhuận như Cát Vạn Lợi không cao nên chi phí vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định vay và đầu tư.

Từ thực tế này, doanh nghiệp không chỉ cân nhắc số tiền có thể vay mà còn phải tính toán hiệu quả của từng đồng vốn. Nếu chi phí vay cao hơn hoặc tiệm cận biên lợi nhuận, việc sử dụng đòn bẩy tài chính để mở rộng sản xuất trở thành lựa chọn nhiều rủi ro.

“Ngoài một khoản vay ở ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài, chúng tôi chọn cách là có vốn bao nhiêu thì hoạt động bấy nhiêu, không dám đầu tư hay mở rộng thêm nữa”, ông Lâm nói.

Cânnhắc từng khoản đầu tư

Trong bối cảnh lãi suất duy trì ở mức cao, doanh nghiệp sẽ phải tìm cách xoay sở phù hợp.

Theo ông Nguyễn Quốc Anh - Giám đốc Công ty Cao su Đức Minh đồng thời là Chủ tịch Hội Cao su nhựa TPHCM, lãi suất vay ngắn hạn hiện đã trên 10%/năm. Vốn vẫn có thể vay, nhưng chi phí quá cao khiến doanh nghiệp phải cân nhắc từng khoản.

Trước đây khi lãi suất thấp, doanh nghiệp ông có thể vay tiền để mua nguyên liệu với số lượng lớn. Việc này vừa giúp chủ động sản xuất, vừa có thể tranh thủ những thời điểm giá nguyên liệu thuận lợi. Tuy nhiên, khi lãi suất tăng, nguyên liệu nằm trong kho đồng nghĩa với tiền vay nằm trong hàng tồn kho và doanh nghiệp phải trả thêm chi phí lãi mỗi ngày.

Lãi suất vay vượt mốc 10%, doanh nghiệp xoay xở cách nào?

Công nhân làm việc tại một doanh nghiệp dệt may ở TPHCM (Ảnh: Nam Bình).

“Bây giờ lãi suất cao quá thì không vay để mua, trữ vật tư nữa mà chuyển sang “ăn đong”. Thay vì mua và dự trữ nguyên liệu với số lượng lớn, doanh nghiệp chuyển sang khi nào cần mới mua, có nguyên liệu đến đâu sản xuất đến đó”, ông Quốc Anh nói.

Một số doanh nghiệp khác có nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu chọn cách đa dạng dòng vốn vay.

Theo ông Tạ Quang Huyên - Tổng giám đốc Công ty Hoàng Sơn 1, doanh nghiệp đang vay với lãi suất khoảng 6%/năm đối với khoản vay bằng USD và 8%/năm đối với khoản vay bằng VND. Các mức lãi suất này đều đã cao hơn từ 2-3 điểm phần trăm so với trước đó. Mức chênh lệch này cho thấy chi phí vốn của doanh nghiệp đã tăng đáng kể so với trước, dù doanh nghiệp vẫn duy trì lịch sử tín dụng và quan hệ giao dịch với nhiều ngân hàng.

Theo ông Huyên, lãi suất doanh nghiệp được hưởng phụ thuộc vào từng ngân hàng và chi phí vốn của mỗi ngân hàng. Những ngân hàng có giá vốn thấp có thể đưa ra mức lãi suất cho vay thấp hơn, trong khi ngân hàng có chi phí vốn cao thường phải cho vay với lãi suất cao hơn.

Theo ông Huyên, ngân hàng vẫn rất cần khách vay nhưng ngược lại, cũng phải đánh giá khả năng trả nợ và mức độ uy tín của người vay. Đây cũng chính là điểm nghẽn mà nhiều doanh nghiệp không vượt qua được mỗi khi trình hồ sơ vay vốn đến các ngân hàng.

Hồi giữa tháng 8, Thủ tướng Chính phủ đã có cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, yêu cầu ngành ngân hàng tiếp tục tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay. 

Ngân hàng Nhà nước cũng đđề nghị các ngân hàng thương mại nhà nước bố trí nguồn lực triển khai chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp SME. 

Báo cáo “Doanh nghiệp SME Việt Nam: Mức độ trưởng thành và tiếp cận tín dụng” của FiinGroup công bố cuối tháng 8 cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) được tiếp cận vốn vay mới đạt 20,5% phản ánh khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực doanh nghiệp này còn khiêm tốn.

Đáng chú ý, khả năng tiếp cận vốn vay có sự khác biệt đáng kể giữa các phân khúc SME: chỉ 8,8% doanh nghiệp siêu nhỏ được tiếp cận vốn vay, trong khi tỷ lệ này ở doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa đạt 30,9%.

Tỷ lệ doanh nghiệp lớn được tiếp cận vốn vay đạt 61,4%, gần gấp 3 lần SME, cho thấy khoảng cách đáng kể về khả năng tiếp cận vốn vay và dư địa lớn để cải thiện năng lực tài chính cho khu vực này.

Thời gian qua, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước liên tục triển khai các giải pháp nhằm giảm mặt bằng lãi suất cho vay và hỗ trợ doanh nghiệp SME tiếp cận tín dụng. Mới nhất, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1809 phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 18/9.

Trong đó, đối với mục tiêu tăng khả năng tiếp cận vốn, đề án yêu cầu tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về tín dụng, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tăng cho vay doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cơ chế về bao thanh toán cũng được hoàn thiện nhằm hỗ trợ doanh nghiệp cải thiện dòng tiền, mở rộng khả năng tiếp cận vốn. 

Bình luận
Bạn cần đăng nhập để bình luận.
Chưa có bình luận nào.