Thừa ủy quyền của Thủ tướng, Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng sáng nay trình Quốc hội tờ trình dự án Luật Luật sư (sửa đổi) với nhiều đề xuất quan trọng về hành nghề luật sư.
Giảng viên trường luật có thể làm luật sư
Dự thảo luật bổ sung tiêu chuẩn luật sư về bản lĩnh chính trị, có đạo đức tốt và liêm chính, bắt buộc bồi dưỡng hằng năm về nhận thức chính trị, chuyên môn. Dự thảo cũng cho phép giảng viên trong lĩnh vực pháp luật tại cơ sở đào tạo đại học chuyên ngành về pháp luật hoặc cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp trở thành luật sư.
Quy trình trở thành luật sư được rút gọn từ 4 bước xuống 2 bước (gộp đăng ký tập sự và gia nhập đoàn thành đăng ký gia nhập đoàn luật sư để tập sự, gộp kiểm tra kết quả tập sự và cấp chứng chỉ hành nghề luật sư thành kỳ thi quốc gia về luật sư).

Hội đồng tuyển chọn luật sư liên ngành, độc lập do Bộ trưởng Tư pháp quyết định thành lập với sự tham gia của Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam làm Phó chủ tịch thường trực; đại diện TAND tối cao, cơ sở đào tạo, chuyên gia và luật sư làm ủy viên. Hội đồng sẽ đánh giá người đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.
Đáng chú ý, dự thảo luật cho phép luật sư tập sự thực hiện một số hoạt động theo sự phân công, giám sát của luật sư hướng dẫn và được khách hàng đồng ý. Cùng với đó, dự thảo bổ sung khái niệm dịch vụ pháp lý; cấm mạo danh luật sư, quảng cáo trái phép, thu thù lao bất hợp pháp, trừ trường hợp thực hiện dịch vụ về chuyên môn.
Trình bày thẩm tra về dự án luật, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết Ủy ban cơ bản tán thành việc bổ sung tiêu chuẩn đối với luật sư nhằm tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng của đội ngũ luật sư. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ hơn tiêu chuẩn của luật sư là "kiên quyết bảo vệ công lý, liêm chính và trung thực".

Luật hiện hành quy định người muốn trở thành luật sư phải đáp ứng tiêu chuẩn "có bằng cử nhân luật". Dự thảo luật đề xuất quy định theo hướng cho phép người có bằng thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật vẫn có thể trở thành luật sư. Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị Chính phủ đánh giá kỹ tác động của việc sửa đổi tiêu chuẩn này để có phương án phù hợp.
Đa số ý kiến trong Ủy ban cũng tán thành quy định Hội đồng tuyển chọn luật sư do Bộ trưởng Tư pháp quyết định thành lập với thành phần như đã nêu. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị nghiên cứu, bổ sung một số đối tượng khác tham gia vào hội đồng như đại diện Viện KSND tối cao, đại diện Hội luật gia Việt Nam...
Chưa thật sự yên tâm
Thảo luận tại tổ sau đó, đại biểu Nguyễn Thị Hương (Bắc Ninh) nhất trí với đề xuất về "bản lĩnh chính trị" là tiêu chuẩn của luật sư. Bởi theo bà, hoạt động luật sư gắn trực tiếp với việc thực hiện pháp luật, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng các quy định trong dự thảo còn khái quát, chưa làm rõ nội hàm, tiêu chí và cơ chế đánh giá. Theo bà, cần phân biệt giữa nhận thức chính trị (sự hiểu biết có thể đào tạo, kiểm tra) với bản lĩnh chính trị (phẩm chất thể hiện bằng thái độ, trách nhiệm và hành vi thực tế trong hành nghề). Nếu không cụ thể hóa việc đào tạo tổ chức kỳ thi, cấp hoặc thu hồi chứng chỉ thì có thể bị đánh giá chủ quan, ảnh hưởng đến tính độc lập của luật sư.
Đại biểu Nguyễn Thanh Sang (TPHCM) đồng tình với việc bổ sung yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng và phẩm chất đạo đức tốt. Bên cạnh đó, ông đề nghị xem xét lại quy định về việc lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để mưu cầu lợi ích cá nhân.
Theo ông, quy định này chưa rõ ràng và chưa phù hợp với bản chất hoạt động của luật sư. Ông cho rằng hoạt động luật sư cũng là hoạt động kinh doanh, người hành nghề tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, từ thu chi đến các vấn đề liên quan. Vì vậy, với quy định chưa rõ thì không nên đưa vào luật.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Ngô Trung Thành (Đắk Lắk) cũng cho rằng cần hết sức cân nhắc việc mở rộng tiêu chuẩn trở thành luật sư, bởi nghề luật sư gắn với yêu cầu bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, người dân. Theo ông, bằng cử nhân luật cung cấp kiến thức nền tảng về pháp luật trong khi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ luật có định hướng nghiên cứu chuyên sâu, học thuật, khác với đào tạo kiến thức nền tảng phục vụ hành nghề.

Ông chia sẻ "chưa thực sự yên tâm" với đề xuất cho phép người có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật trở thành luật sư.
Theo ông, việc mở rộng tiêu chuẩn nhằm thu hút nhân lực, nhất là từ nước ngoài, cần được nghiên cứu kỹ. Chẳng hạn, tại một số nước theo hệ thống Anh - Mỹ, người muốn hành nghề luật phải hoàn thành chương trình Juris Doctor (JD) với thời gian đào tạo chuẩn khoảng 3 năm, chuyên sâu về hành nghề luật song song với các chương trình thạc sĩ, tiến sĩ luật thiên về nghiên cứu.
Ông Thành chia sẻ quan điểm về việc cần nghiên cứu kỹ sự khác biệt giữa các mô hình đào tạo trước khi điều chỉnh tiêu chuẩn luật sư. Từ những phân tích trên, ông đề nghị giữ nguyên tiêu chuẩn có bằng cử nhân luật, đồng thời nghiên cứu quy định phù hợp đối với các mô hình đào tạo khác có trình độ tương đương.